Luật Sư Ly Hôn

Luật sư tư vấn địa điểm nộp đơn ly hôn ở đâu?

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Ly Hôn

1. Nộp đơn ly hôn ở đâu?

Trường hợp ly hôn thuận tình

Nộp đơn ly hôn ở đâu sẽ trở nên dễ dàng hơn nếu như hai vợ chồng đồng thuận ly hôn. Vì khi ly hôn thuận tình thì hai vợ chồng có thể thỏa thuận với nhau về việc nộp đơn. Vợ chồng có thể nộp đơn tại Tòa án nơi mà một trong hai vợ chồng đang cư trú.

Trường hợp ly hôn đơn phương

Khác với trường hợp ly hôn thuận tình là ly hôn đơn phương. Đây là trường hợp ly hôn mà chỉ có một bên yêu cầu ly hôn khi vợ hoặc chồng gặp phải những vấn đề như:

- Bạo lực gia đình.

- Vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng.

Với những hành vi gây ảnh hưởng đến cuộc sống hôn nhân thì ly hôn là điều khó tránh khỏi. Trong các cách để ly hôn thì ly hôn đơn phương tương đối phức tạp và gây không ít khó khăn cho đương sự về mặt thời gian cũng như các thủ tục pháp lý.

Một số vấn đề thường gặp trong trường hợp đơn phương ly hôn:

• Hai vợ chồng không có cùng hộ khẩu: rơi vào trường hợp này thì người yêu cầu ly hôn phải gửi đơn về Tòa án nơi mà bị đơn cư trú, làm việc.

• Chỉ có sổ tạm trú: Thực tế có không ít các trường hợp đi làm ăn xa nên không cư trú tại nơi có hộ khẩu thường trú mà chỉ có sổ tạm trú. Vậy trong trường hợp này nếu muốn ly hôn thì nên nộp đơn ly hôn ở đâu?Theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Điều 39 nêu rõ khi yêu cầu ly hôn, vợ hoặc chồng sẽ nộp đơn tại Tòa án nơi người còn lại cư trú, làm việc.

• Không xác định được nơi cư trú của bị đơn:

Khi không xác định được nơi cư trú của bị đơn thì nguyên đơn có thể nộp đơn tại Tòa án nơi bị đơn làm việc.

Nếu không biết cả nơi cư trú và nơi làm việc của bị đơn thì lúc này nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn, làm việc cưới cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản để giải quyết.

Nếu do bị đơn mất tích mà không xác định được nơi cư trú thì bắt buộc phải yêu cầu Tòa án tuyên bố người này mất tích.

Trường hợp ly hôn có yếu tố nước ngoài

Nộp đơn ly hôn ở đâu khi ly hôn có liên quan đến yếu tố nước ngoài? Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các vụ ly hôn có yếu tố nước ngoài giữa:

- Công dân Việt Nam với người nước ngoài;

- Người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam;

- Nếu người Việt Nam ly hôn với người nước ngoài nhưng không thường trú tại Việt Nam vào thời điểm ly hôn nhưng hai vợ chồng không có nơi thường trú chung.

Tại khoản 3 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân cấp huyện sẽ không có thẩm quyền giải quyết các vụ án ly hôn nếu có:

- Đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài;

- Cần ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ ly hôn trừ những vụ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện.

2. Nộp đơn ly hôn ở đâu khi vợ chồng sống khác thành phố?

Chúng tôi làm đăng ký kết hôn và chung sống tại Huế nhưng từ khi ly thân chồng về quê ở Nghệ An

Tôi có đề nghị đến Huế làm thủ tục ly hôn nhưng anh nói cứ gửi giấy tờ vào đây và sẽ không làm khó. Chúng tôi không có con chung.

Xin hỏi luật sư, tôi phải nộp đơn ly hôn ở đâu? Làm thế nào để thuận tiện cho cả đôi bên?

Luật sư tư vấn

Điều 55 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định hai hình thức ly hôn là thuận tình ly hôn và ly hôn theo yêu cầu của một bên (đơn phương ly hôn).

Đối với thuận tình ly hôn, pháp luật đòi hỏi hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con. Trường hợp này tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn mà không phải mở phiên tòa xét xử cho ly hôn nên thời gian giải quyết khá nhanh gọn.

Một số trường hợp khi nộp đơn, vợ chồng thuận tình ly hôn nhưng sau đó lại phát sinh tranh chấp hoặc thỏa thuận của vợ chồng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì cũng không thuộc trường hợp thuận tình ly hôn.

Với ly hôn đơn phương, vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại tòa án không thành thì tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Về thẩm quyền giải quyết của tòa án, với trường hợp thuận tình ly hôn, theo điểm h, khoản 2 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tòa án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn. Điều này có nghĩa, khi thuận tình ly hôn, các bên có thể lựa chọn tòa án nơi cư trú của vợ hoặc chồng để yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn.

Với trường hợp ly hôn đơn phương, theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tòa án nơi bị đơn cư trú có thẩm quyền giải quyết.

Với quy định nói trên, vợ chồng thuận tình ly hôn thì bạn có thể nộp đơn tại tòa án cấp huyện nơi cư trú của vợ hoặc chồng. Trường hợp đơn phương ly hôn, bạn phải nộp đơn xin ly hôn tại tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng bạn đang cư trú.

ANTV

Luật sư Trần Minh Hùng chuyên gia tư vấn luật trên kênh HTV, VTV, THVL1, ANTV, SCTV1...

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội. 

 Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hình uy tín như:  Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Truyền hình Công an ANTV, SCTV, THQH, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Truyền hình Quốc Hội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ đại án Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như và Viettinbank, Vụ cướp 35 tỷ Long Thành - Dầu giây, Chống thi hành công vụ mùa Covid, các vụ Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái... và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Chúng tôi cùng tư vấn luật và cố vấn pháp lý cho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước rất lâu năm.

Trân trọng cảm ơn!.

Luật sư tư vấn trường hợp bố được nuôi con dưới 3 tuổi sau ly hôn

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Ly Hôn

1. Khi nào bố được nuôi con dưới 3 tuổi sau ly hôn?

Vợ chồng tôi ly hôn khi con gái 32 tháng tuổi. Do vợ không có thu nhập, lối sống và nhân thân không tốt, tôi muốn giành quyền nuôi con thì cần những điều kiện gì?

Luật sư tư vấn

Theo điều 81, Luật Hôn nhân và gia đình, sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn với con. Trường hợp không thỏa thuận được, tòa án sẽ quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ quyền lợi về mọi mặt của con. Nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên, phải xem xét nguyện vọng của con.

Khoản 3 điều này cũng quy định, con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Với quy định trên, nếu muốn giành quyền trực tiếp nuôi con, bạn phải chứng minh vợ bạn không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các căn cứ có thể là vợ bạn không có thu nhập và cũng không có tiền tích lũy để nuôi con, thường xuyên vắng nhà, không có thời gian dành cho con cái hoặc vướng mắc tệ nạn xã hội, có hành vi, lối sống vi phạm pháp luật nhiều lần... Việc đánh giá, nhận định đủ hay không đủ điều kiện nuôi con do Hội đồng xét xử quyết định.

Vợ chồng bạn cũng có thể thỏa thuận con được giao trực tiếp cho bố nuôi dưỡng. Nếu xét thấy yêu cầu này là tự nguyện, xuất phát từ quyền lợi của con cái thì cũng được pháp luật công nhận.

2. Con cái có được chọn người nuôi dưỡng khi cha mẹ ly hôn không?

Các quy định của pháp luật về ly hôn

Các quy định của pháp luật về ly hôn được phân tích dựa trên hai ý sau:

Về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

Điều 51 Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2014 quy định về người có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn cụ thể bao gồm:

• Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

• Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

• Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Đơn yêu cầu ly hôn sẽ được Tòa án thụ lý theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2014.

Các trường hợp ly hôn

Ly hôn căn cứ theo Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2014 quy định được chia làm hai loại như sau:

Thuận tình ly hôn: Điều 55 Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2014 quy định về thuận tình ly hôn trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn, còn nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Ly hôn theo yêu cầu của một bên: Khi Tòa án thụ lý đơn ly hôn được chồng hoặc vợ gửi thì Tòa án sẽ tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 54 Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2014. Trong trường hợp không hòa giải được thì Tòa án sẽ tiến hành theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2014 trong ba trường hợp như sau:

• Trường hợp 1: Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

• Trường hợp 2: Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

• Trường hợp 3: Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Quy định pháp luật về việc nuôi dưỡng con sau khi cha mẹ ly hôn

Về quyền nuôi dưỡng con cái

Điều 81 Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2014 quy định về quyền nuôi dưỡng con cái sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

Về quyền giao con cho cha mẹ nuôi sau khi ly hôn

Điều 81 Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2014 cũng có quy định về quyền giao con cho cha mẹ nuôi sau khi ly hôn thuộc về Tòa án, khi vợ chồng không thỏa thuận được người sẽ trực tiếp nuôi con.

Ngoài ra, cũng tại Khoản 3 Điều 81 Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2014 quy định rằng con dưới 36 tháng tuổi sẽ được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Điều 84 Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2014 cũng có quy định về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi cha mẹ ly hôn, trong trường hợp nếu như có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi cha mẹ ly hôn sẽ được thực hiện dựa trên các căn cứ sau:

• Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con

• Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con

Điều 82 Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2014 quy định về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn cụ thể như sau:

• Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

• Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

• Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì vậy, nghĩa vụ của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn phải có là nghĩa vụ cấp dưỡngcho con.

Điều 116 Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2014 quy định về mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận được căn cứ vào các yếu tố sau đây:

• Thu nhập của người có nghĩa vụ cấp dưỡng.

• Khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng.

• Nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng

Trong trường hợp không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.

Điều 117 Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2014 cũng có quy định về phương thức cấp dưỡng. Cụ thể việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.

Về xử lý vi phạm liên quan tới vấn đề nuôi dưỡng con

Điều 186 Bộ Luật Hình Sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) quy định về Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm nếu thỏa mãn các điều kiện sau:

• Làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe.

• Đã bị xử phạt hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều 186 Bộ Luật Hình Sự 2015 mà còn vi phạm.

Ngoài ra, hành vi này còn bị xử phạt hành chính theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình cụ thể như sau:

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

• Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau ly ôn; từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa anh, chị, em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu theo quy định của pháp luật.

• Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng cha, mẹ; nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.

Quy định pháp luật về độ tuổi con cái có quyền chọn người nuôi dưỡng

Về độ tuổi

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2014 thì vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Như vậy, độ tuổi mà con cái có quyền chọn người nuôi dưỡng là từ 07 tuổi trở lên.

Về đơn trình bày nguyện vọng chọn người nuôi dưỡng

Thông thường, Tòa án sẽ cho con từ đủ 07 tuổi trở lên trình bày nguyện vọng được sống cùng ai khi cha mẹ ly hôn bằng văn bản. Do mẫu đơn này không có mẫu sẵn nên văn bản thường được viết tay hoặc đánh máy và cho con ký vào. Một văn bản trình bày nguyện vọng chọn người nuôi dưỡng cần phải có đầy đủ các nội dung sau:

• Tên đơn.

• Kính gửi tới ai?

• Họ và tên người có nguyện vọng cần trình bày, ngày tháng năm sinh.

• Địa chỉ sinh sống.

• Là con của bố (họ và tên của bố) và mẹ (họ và tên của mẹ)

• Nội dung trình bày ngắn gọn như hiện tại đang sống ở đâu? sống với ai? trong trường hợp bố mẹ ly hôn thì muốn được sống với ai?

• Chữ ký của người có nguyện vọng cần trình bày.

20208

 

Luật sư Trần Minh Hùng chuyên gia tư vấn luật trên kênh HTV, VTV, THVL1, ANTV, SCTV1...

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội. 

 Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hình uy tín như:  Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Truyền hình Công an ANTV, SCTV, THQH, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Truyền hình Quốc Hội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ đại án Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như và Viettinbank, Vụ cướp 35 tỷ Long Thành - Dầu giây, Chống thi hành công vụ mùa Covid, các vụ Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái... và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Chúng tôi cùng tư vấn luật và cố vấn pháp lý cho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước rất lâu năm.

Trân trọng cảm ơn!.

Luật sư tư vấn thủ tục đòi tiền cấp dưỡng cho con sau ly hôn

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Ly Hôn

1. Thủ tục đòi tiền cấp dưỡng cho con sau ly hôn

Theo quy định của pháp luật, Bản án, quyết định về cấp dưỡng của Tòa án có giá trị thi hành ngay sau khi ban hành, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị.

Việc thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng cho con của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con được Nhà nước khuyến khích tự nguyện thi hành.

Nếu người có nghĩa vụ cấp dưỡng đủ điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định pháp luật.

Trình tự, thủ tục yêu cầu thi hành án cấp dưỡng cho con thực hiện như thế nào?

Để yêu cầu thi hành án, người trực tiếp nuôi con hoặc người giám hộ cho con phải nộp hồ sơ yêu cầu cấp dưỡng cho con và nộp tại Chi cục thi hành án huyện hoặc Cục thi hành án tỉnh có trụ sở cùng địa bàn với Tòa án ra bản án, quyết định về cấp dưỡng.

Hồ sơ yêu cầu cấp dưỡng bao gồm:

1. Bản án hoặc quyết định của Tòa án có ghi nhận về cấp dưỡng

2. Đơn yêu cầu thi hành án dân sự. Hoặc có thể trình bày bằng lời nói trực tiếp để cơ quan thi hành án lập biên bản.

3. Tài liệu chứng minh người có nghĩa vụ cấp dưỡng đang có tài sản để thi hành như: bảng lương; tài sản hiện hữu như nhà cửa hoặc xe hoặc tiền trong ngân hàng.

Lưu ý: Thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

Nếu bản án, quyết định Tòa án ấn định thời hạn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cụ thể thì thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm tính từ ngày nghĩa vụ cấp dưỡng đến hạn.

Nếu bản án, quyết định ghi nhận việc cấp dưỡng thực hiện định kỳ (theo tháng, quý, năm,…) thì thời hiệu 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày đến hạn thực hiện cấp dưỡng.

Quá thời hạn nêu trên thì không còn quyền yêu cầu thi hành án cấp dưỡng.

Việc cưỡng chế cấp dưỡng được thực hiện như thế nào?

Người có nghĩa vụ cấp dưỡng có thời gian 10 ngày tính từ ngày nhận được quyết định thi hành án, để tự nguyện thi hành cấp dưỡng.

Nếu hết thời gian trên mà không tự nguyện thi hành thì sẽ bị cưỡng chế thi hành án.

Chấp hành viên thực hiện cưỡng chế thi hành án cấp dưỡng bằng cách trừ vào thu nhập của người phải thi hành án (như tiền lương, tiền công,..v.v).

Mức cao nhất được trừ vào tiền lương, tiền công, lương hưu, trợ cấp là 30% tổng số tiền được nhận hàng tháng, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác. Đối với các thu nhập khác thì căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải thi hành án, nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và người con theo quy định của pháp luật.

Thời gian thực hiện cưỡng chế thi hành án phụ thuộc vào phương thức cấp dưỡng (định kỳ hay một lần) và thu nhập của người có nghĩa vụ cấp dưỡng.

2. Hành vi trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng thì xử lý như thế nào?

Câu hỏi: Chào luật sư Gia Đình, tôi và chồng tôi kết hôn và sống với nhau 11 năm có 2 con (1 đứa 10 tuổi, 1 đứa 6 tuổi) thì ly hôn. Hiện tại có quyết định của tòa án đã 2 năm là chông tôi phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho hai con tôi mỗi tháng 1.114.000 đồng vì tôi là người được trực tiếp nuôi con. Nhưng đến nay đã 2 năm anh ta chưa một lần cấp dưỡng vì vậy cứ mỗi 6 tháng thi hành án kêu tới ký hoãn thi hành án lí do: tôi không cung cấp thông tin gì của anh ta (hiện tại anh ta sống với cha mẹ anh có tài sản và chỉ có mình anh). Như vậy lá như thế nào, trong khi anh ta không chịu đi làm việc để cấp dưỡng cho con mà còn chứng giấy không khả năng cấp dưỡng cho con với lý do không có việc làm nhưng thực chất anh rất khỏe mạnh .Anh ta làm vậy là có mang tội trốn tránh không? Tôi phải làm gì đây? Có luật pháp nào buộc anh phải cấp dưỡng cho hai con tôi không và như vậy trong vòng hai năm tôi không cung cấp thông tin của anh cho thi hành án thì bản án quyết định của tòa án có còn hiệu lực hay không? Kính mong các luật sư trả lời giúp tôi. Xin chân thành cảm ơn!

Luật sư Gia Đình trả lời tư vấn:

Cảm ơn chị đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty, trường hợp của chị chúng tôi tư vấn như sau:

Thứ nhất, về lý do hoãn thi hành án

Căn cứ Khoản 1 Điều 48, Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi bổ sung 2014 quy định về hoãn thi hành án như sau:

1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án trong các trường hợp sau đây:

a) Người phải thi hành án bị ốm nặng, có xác nhận của cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên; chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án hoặc vì lý do chính đáng khác mà người phải thi hành án không thể tự mình thực hiện được nghĩa vụ theo bản án, quyết định;

b) Người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án. Việc đồng ý hoãn phải lập thành văn bản ghi rõ thời hạn hoãn, có chữ ký của các bên. Trong thời gian hoãn thi hành án do có sự đồng ý của người được thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án;

c) Người phải thi hành các khoản nộp ngân sách nhà nước không có tài sản hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản đó không đủ chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc có tài sản nhưng tài sản thuộc loại không được kê biên;

d) Tài sản kê biên có tranh chấp đã được Tòa án thụ lý để giải quyết;

đ) Việc thi hành án đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền giải thích bản án, quyết định và trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 179 của Luật này.

Như vậy, căn cứ hoãn thi hánh án đưa ra là chưa hợp lý. Chị có quyền yêu cầu phía cơ quan thi hành án giải thích rõ hơn về việc này.

Thứ hai, việc chồng chị trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng

Mức và phương thức cấp dưỡng đã được Tòa án giải quyết và có bản án bắt buộc thi hành. Việc anh ta là người có sức khỏe và có tài sản nhưng xin giấy chứng nhận không có khả năng cấp dưỡng thể hiện anh ta muốn trốn tránh nghĩa vụ này. Những trường hợp này có thể bị xử lý hành chính, theo mức độ nghiêm trọng mà có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự:

- Xử lý hành chính: Trường hợp có bản án của tòa án mà người trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng không thực hiện theo quyết định của bản án thì theo quy định tại điểm a Khoản 3 Điều 52 Nghị định 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự thì hành vi này có thể bị phạt từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng.

Điều 52. Hành vi vi phạm quy định trong hoạt động thi hành án dân sự

3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Không thực hiện công việc phải làm, không chấm dứt thực hiện công việc không được làm theo bản án, quyết định;

- Xử lý hình sự: Hành vi trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Bộ Luật hình sự.

"Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng

Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà cố ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm."

Việc từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi người việc từ chối hoặc trốn tránh gây hậu quả nghiêm trọng như làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng ốm đau, bệnh tật, nguy hiểm đến sức khỏa tính mạng…trường hợp đã bị xử lý hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

VTV1

 

Luật sư Trần Minh Hùng chuyên gia tư vấn luật trên kênh HTV, VTV, THVL1, ANTV, SCTV1...

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội. 

 Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hình uy tín như:  Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Truyền hình Công an ANTV, SCTV, THQH, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Truyền hình Quốc Hội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ đại án Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như và Viettinbank, Vụ cướp 35 tỷ Long Thành - Dầu giây, Chống thi hành công vụ mùa Covid, các vụ Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái... và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Chúng tôi cùng tư vấn luật và cố vấn pháp lý cho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước rất lâu năm.

Trân trọng cảm ơn!.

Luật sư tư vấn ly thân có được chia tài sản không?

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Ly Hôn

1. Ly thân có phải là tiền đề để ly hôn không?

- Ly thân là gì và khác gì ly hôn?

Ly thân là việc hai vợ chồng tự thỏa thuận với nhau về việc không còn sống chung. Ly thân là sự thỏa thuận của hai bên, hiện nay pháp luật không quy định về việc ly thân, và việc ly thân cũng không có cơ quan hay tổ chức nào công nhận, can thiệp vào mối quan hệ của hai vợ chồng. Chính vì vậy, ly thân không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân, quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với con cái, tài sản vẫn phải tuân theo quy định của pháp luật. Nếu sau khi ly thân, hai vợ chồng muốn quay lại thì không cần sự công nhận của bất cứ cơ quan, tổ chức nào.

Ly hôn là việc Tòa án ra bản án, quyết định tuyên bố chấm dứt quan hệ hôn nhân của hai vợ chồng. Theo đó, các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng cũng chấm dứt, nếu có con chung thì các bên sẽ chỉ còn nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con. Khi đã ly hôn, nếu muốn quay lại thì sẽ gặp rất nhiều vướng mắc về mặt pháp lý. Các bên phải tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn lại để được pháp luật công nhận và bảo vệ quyền, lợi ích vợ chồng. Chính vì vậy, nếu thực sự muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân sau khi cân nhắc kĩ càng thì các cặp vợ chồng mới nên quyết định ly hôn.

- Trước khi quyết định ly hôn có nên ly thân hay không?

Như đã nói, ly thân không giống như ly hôn. Nếu ly hôn là chấm dứt hoàn toàn thì ly thân mối quan hệ vợ chồng vẫn còn đó. Chính vì vậy, ly thân là trao cho nhau cơ hội để quay lại, là tạo điều kiện cho nhau cùng suy nghĩ, cùng cân nhắc về tình cảm dành cho nhau. Ly thân mặc dù là không còn chung sống với nhau nhưng mục đích hướng đến lại là hàn gắn tình cảm, cùng nhau tìm ra giải pháp cho mối quan hệ nếu muốn quay về bên nhau.

Có thể nói ly thân trước ly hôn là một xu hướng được nhiều cặp vợ chồng lựa chọn. Tuy nhiên, ly thân cũng có những mặt trái nhất định. Nhiều trường hợp, trong thời gian ly thân, chính khoảng cách tạo ra sự xa cách.

Trong trường hợp của chị, mặc dù gia đình có những vấn đề nhất định nhưng quan trọng chị vẫn còn tình cảm với chồng thì chị nên ngồi lại; trao đổi với chồng về những vấn đề cuộc hôn nhân đang gặp phải. Nếu cần khoảng không gian riêng để hai người cùng suy nghĩ; cân nhắc thêm thì chị có thể thương lượng với anh về việc ly thân.

- Ly thân có phải là tiền đề để ly hôn không?

Nhiều người nghĩ rằng, khi đã ly thân thì nhất định sẽ ly hôn. Điều đấy là không phải. Việc ly thân hay ly hôn đều là do chính lựa chọn của những người trong cuộc. Không phải trường hợp nào ly thân cũng dẫn đến việc ly hôn. Và ngược lại, cũng không phải trường hợp nào ly hôn cũng đều ly thân trước. Những xung đột trong hôn nhân và quan điểm của vợ chồng mới là điều dẫn đến việc tiếp tục; hay chấm dứt một cuộc hôn nhân.

Luật Hôn nhân và gia đình 2014 không thừa nhận việc ly thân và cũng không quy định rằng ly thân bao lâu thì sẽ tiến hành ly hôn; hay ly thân là căn cứ giải quyết ly hôn. Tuy nhiên, việc ly thân có thể là cơ sở để chứng minh mối quan hệ vợ chồng đang lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài và một bên đệ đơn lên Tòa yêu cầu giải quyết ly hôn thì Tòa án vẫn có thể lấy đây làm một tình tiết để xem xét giải quyết ly hôn..

Như vậy; việc ly thân không mang ý nghĩa quyết định về mặt pháp lý nhưng lại rất có ý nghĩa cho cuộc hôn nhân gặp mâu thuẫn.

2. Khi ly thân có được chia tài sản không?

Vợ chồng tôi đã ly thân từ năm 2018 nhưng con vẫn còn nhỏ nên chúng tôi không muốn nộp đơn xin ly hôn. Vì một vài lý do công việc của mỗi người nên giờ chúng tôi muốn phân chia tài sản của mình. Tôi muốn hỏi khi đang ly thân có được chia tài sản không? Tôi xin cảm ơn!

Hiện tại không có tài liệu pháp lý nào về việc ly thân, vì vậy trong thời gian ly thân thì vẫn sẽ được xác định như trong thời kỳ hôn nhân. Liên quan đến trường hợp của vợ chồng bạn, mặc dù đã ly thân từ năm 2018 nhưng vẫn chưa hoàn thành thủ tục ly hôn theo quy định của pháp luật, vì vậy mối quan hệ vợ chồng vẫn tồn tại. Việc phân chia tài sản sẽ tuân theo thủ tục phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân quy định tại Điều 38 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014:

- Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền đồng ý chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ các trường hợp sau:

+ Việc phân chia tài sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em vị thành niên, trẻ em vị thành niên bị mất năng lực hành vi dân sự, không có năng lực tự làm việc, không có tài sản để tự nuôi mình.

+ Việc phân chia tài sản nhằm trốn tránh các nghĩa vụ sau: Nghĩa vụ nâng cao và hỗ trợ; Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại; Nghĩa vụ thanh toán khi Tòa án tuyên bố phá sản; Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân và tổ chức; Nghĩa vụ thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước; Các nghĩa vụ tài sản khác theo Luật này, Bộ luật Dân sự và các luật khác có liên quan.

- Thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng phải được thành lập bằng tài liệu văn bản. Tài liệu này được công chứng chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

- Trong trường hợp có yêu cầu của vợ hoặc chồng, tòa án sẽ giải quyết việc phân chia tài sản chung của vợ và chồng theo Điều 59 của Luật này.

Do đó, nếu bạn không thuộc nhóm không được phép chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo quy định của pháp luật, vợ hoặc chồng của bạn có quyền thỏa thuận phân chia tài sản. Nội dung của thỏa thuận bao gồm các thông tin cơ bản như: tên, tuổi, nơi cư trú của vợ chồng, tài sản được chia, thỏa thuận chia, quyền và nghĩa vụ của các bên, thời gian phân chia tài sản.

Việc phân chia tài sản phải được lập thành văn bản và phải được công chứng theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp bạn và chồng bạn không thể đạt được thỏa thuận về việc phân chia tài sản chung, bạn có thể nộp đơn yêu cầu phân chia tài sản chung và gửi đến Tòa án nơi hai vợ chồng cư trú để giải quyết việc phân chia tài sản theo Luật hiện hành.

12.20204

Luật sư Trần Minh Hùng chuyên gia tư vấn luật trên kênh HTV, VTV, THVL1, ANTV, SCTV1...

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội. 

 Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hình uy tín như:  Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Truyền hình Công an ANTV, SCTV, THQH, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Truyền hình Quốc Hội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ đại án Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như và Viettinbank, Vụ cướp 35 tỷ Long Thành - Dầu giây, Chống thi hành công vụ mùa Covid, các vụ Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái... và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Chúng tôi cùng tư vấn luật và cố vấn pháp lý cho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước rất lâu năm.

Trân trọng cảm ơn!.

Luật sư tranh tụng chia tài sản ly hôn khi Vợ chỉ ở nhà nội trợ

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Ly Hôn

1. Giải quyết các tình huống về chia tài sản chung khi ly hôn

Tóm tắt câu hỏi:

Xin hỏi luật sư, chị gái tôi bị chồng làm đơn ly hôn ra Tòa. Tòa án thành phố đã có thông báo thụ lý hồ sơ giải quyết ly hôn. Trong phiên hòa giải, chồng chị tôi muốn thỏa thuận chia tài sản với chị tôi nhưng về nhà anh ta không hợp tác, chỉ chia bằng miệng mà không tiến hành làm các thủ tục sang tên.

Tài sản chung của vợ chồng chị tôi gồm 4000 m2 đất của bố mẹ chồng cho. 5000 m2 ruộng đã có bìa đỏ đứng tên cả hai vợ chồng. Bìa đỏ được cấp năm 2011. Ngôi nhà 100m2 được xây trên mảnh đất 4000m2 đã có sổ đỏ nhưng vì ở nông thôn không cần giấy phép xây dựng. Xin hỏi luật sư: Bây giờ vợ chồng chị tôi ly hôn thì hai tài sản đó sẽ được chia như thế nào? Ghi chú là chị tôi và anh rể có hai con gái, đứa lớn 18 tuổi và đứa bé 15 tuổi.

Chị tôi đề nghị nhờ Tòa phân chia tài sản hộ nhưng chồng chị không đưa bìa đỏ cho và không nộp lên Tòa thì phải làm thế nào? Nếu Tòa phân chia thì án phí sẽ tính thế nào? Trường hợp chồng chị giấu bìa đỏ đi và làm lại chứng nhận bìa đỏ chỉ đứng tên anh ta thì có được không vì đất đó được tách nhượng cho từ bố mẹ anh ta? Xin cảm ơn luật sư!

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, trường hợp chồng giấu bìa đỏ đi và làm lại chứng nhận bìa đỏ chỉ đứng tên chồng thì có được không?

Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân (trừ trường hợp tài sản đã chia trong thời kì hôn nhân và hoa lợi, lợi tích tạo ra từ tài sản đó), tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Như vậy, quyền sử đụng đối với mảnh đất 4000m2 mà vợ chồng anh chị bạn được bố mẹ chồng tặng cho là trong thời kì hôn nhân, mặt khác người chồng không có giấy tờ, thỏa thuận về việc đó là tài sản tặng cho riêng hay đó là tài sản riêng, do vậy, đây cũng là tài sản chung của vợ chồng.

Đối với việc sửa đổi tên trong Giấy chứng nhận quyền sử đất từ hai người thành một người khi chưa có bản án ly hôn của Tòa án tức là tài sản này nếu được sửa đổi tên là do chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân. Điều 12 Nghị định 126/2014/NĐ-CP hướng dẫn biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

“Trong trường hợp tài sản chung được chia trong thời kỳ hôn nhân mà trong giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên cả vợ và chồng thì bên được chia phần tài sản bằng hiện vật có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký tài sản cấp lại giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở văn bản thỏa thuận của vợ chồng hoặc quyết định của Tòa án về chia tài sản chung.”

Điều này có nghĩa là, vợ hoặc chồng chỉ có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền đăng kí lại quyền sử dụng mảnh đất đứng tên từ hai người thành một người nếu có văn bản thỏa thuận của vợ chồng hoặc Quyết định chia tài sản chung của Tòa án. Do đó, trường hợp của bạn, người chồng không thể tiến hành xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên một mình anh ta được.

Thứ hai, tài sản đó được chia như thế nào?

Khoản 2 Điều 33 Luật HN&GĐ quy định rõ “Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng”, tức là tài sản này chỉ thuộc quyền sử dụng của hai vợ chồng mà không liên quan gì đến các con.

Theo quy định tại Điều 59 Luật HN&GĐ, về nguyên tắc, tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia đôi, tuy nhiên nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

Đối với tài sản chung là Quyền sử dụng đất, việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau (Điều 62):

– Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 Luật HN&GĐ.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

– Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 Luật HN&GĐ;

– Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.

Thứ ba, trường hợp người chồng không đồng ý chia tài sản, không đưa ra Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì làm thế nào?

Tại phiên tòa giải quyết ly hôn, Tòa án sẽ chia tài sản dựa trên sự thỏa thuận của các bên, trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được, hoặc đã thỏa thuận nhưng muốn thay đổi thì Tòa án sẽ tiến hành chia tài sản theo luật định.

Nếu trường hợp người chồng không đồng ý chia tài sản, Tòa án sẽ yêu cầu người chồng nộp những giấy tờ, tài liệu cần thiết để tiến hành thủ tục ly hôn. Trong trường hợp không thu thập được tài liệu của đương sự thì Tòa án có trách nhiệm tiến hành thu thập từ các cơ quan hữu quan.

Trường hợp sau khi đã có bản án của Tòa án, bản án đã có hiệu lực pháp luật, trong một thời hạn nhất định mà người chồng vẫn không tiến hành các thủ tục tách thửa, sang tên quyền sử dụng đất thì người vợ nộp đơn yêu cầu thi hành án đến cơ quan thi hành án dân sự. Lúc này cơ quan thi hành án dân sự sẽ có văn bản gửi cho người chồng buộc phải thực hiện nghĩa vụ. Nếu trong thời hạn quy định, người chồng không thực hiện thì cơ quan thi hành án sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế buộc người chồng thực hiện nghĩa vụ.

2. Vợ có được chia tài sản khi ly hôn nếu ở nhà nội trợ?

Vợ chồng anh T.T.H (32 tuổi; ở Quận 3-Hồ Chí Minh) kết hôn được 5 năm và có một con nhỏ 3 tuổi. Anh H đi làm, còn chị V (vợ anh H) ở nhà nội trợ.

Do cuộc sống hôn nhân trục trặc, anh H bày tỏ mong muốn được ly hôn. Gửi câu hỏi cho tòa soạn, người đàn ông này băn khoăn nếu phải ra tòa, tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân sẽ được chia như thế nào?

Giải đáp thắc mắc này, luật sư Trần Minh Hùng (Trưởng Văn Phòng Luật Sư Gia Đình) nhận định, dù chị V không có thu nhập, khối tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân vẫn được tính là tài sản chung của vợ chồng.

Khoản 1, Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định, tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Do đó, tài sản do mình anh H tạo ra được xác định vào khối tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp hai người có thỏa thuận khác theo các trường hợp tại Khoản 1, Điều 28 luật này.

Về nguyên tắc, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng sẽ tính tới các yếu tố quy định tại Khoản 2, Điều 59 như hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung, hay lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP quy định “công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của người đi làm. Ngoài ra, nếu công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.

Như vậy, chị V là người thực hiện công việc nội trợ, trông nom con cái, chăm sóc gia đình. Chị không có thu nhập hằng tháng nhưng vẫn được tính là có thu nhập tương đương với thu nhập của anh H và vẫn được chia tài sản chung hình thành trong thời kỳ hôn nhân.

CCHC4

Luật sư Trần Minh Hùng chuyên gia tư vấn luật trên kênh HTV, VTV, THVL1, ANTV, SCTV1...

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội. 

Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hình uy tín như:  Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Truyền hình Công an ANTV, SCTV, THQH, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Truyền hình Quốc Hội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ đại án Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như và Viettinbank, Vụ cướp 35 tỷ Long Thành - Dầu giây, Chống thi hành công vụ mùa Covid, các vụ Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái... và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Chúng tôi cùng tư vấn luật và cố vấn pháp lý cho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước rất lâu năm.

Trân trọng cảm ơn!.

Giới Thiệu Luật Sư Trần Minh Hùng

link s75   Luật sư Trần Minh Hùng là một trong những luật sư có nhiều kinh nghiệm về kiến thức, thực tiễn và đã từng thắng nhiều vụ kiện. Luật sư Minh Hùng luôn coi trọng chữ Tâm của nghề luật sư và trách nhiệm đối với xã hội nên đã được nhiều hãng báo chí, truyền thông, phỏng vấn về nhiều lĩnh vực quan trọng liên quan đến đời sống xã hội và được mời làm ban giám khảo các cuộc thi liên quan đến pháp luật... 
Hotline:0972238006