Luật Sư Thừa Kế

Những hình thức tư vấn thừa kế

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Thừa Kế

 Những hình thức tư vấn thừa kế 

+   Tư vấn pháp luật về Thừa kế Đất đai, pháp luật Dân sự trực tiếp và thực hiện dịch vụ pháp lý tại văn phòng cho quý khách hàng có điều kiện thời gian đến trụ sở công ty Luật Minh Gia yêu cầu tư vấn;

+   Tư vấn qua tổng đài tư vấn pháp luật Đất đai trực tuyến qua Hotline: 0972238006 Đối với trường hợp quý khách hàng ở xa hoặc không có thời gian đến tư vấn trực tiếp có thể liên hệ tổng đài tư vấn luật trực tuyến, sau khi kết nối sẽ được luật sư tư vấn chu đáo, tận tình theo quy định pháp luật;

+   Tư vấn qua Email bằng hình thức liên hệ đến hòm thư chúng tôi.

2. Những vấn đề luật sư tư vấn thừa kế quyền sử dụng đất gồm:

Trình tự thực hiện đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất

+   Người nhận thừa kế quyền sử dụng đất nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường hoặc Ủy ban nhân dân xã, thị trấn đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại xã, thị trấn (trường hợp nộp hồ sơ tại xã thị trấn thì trong vòng ba (03) ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân xã, thị trấn có trách nhiệm chuyển hồ sơ cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc phòng Tài nguyên và Môi trường).

+   Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thẩm tra hồ sơ, làm trích sao hồ sơ địa chính; gửi số liệu địa chính cho cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính (nếu có); chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp hoặc thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với trường hợp phải cấp mới giấy chứng nhận; Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thông báo cho bên nhận thừa kế quyền sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật;

+   Sau khi bên nhận thừa kế quyền sử dụng đất thực hiện xong nghĩa vụ tài chính, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hoặc Ủy ban nhân dân xã, thị trấn đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại xã, thị trấn có đất có trách nhiệm trao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Thành phần, số lượng hồ sơ đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất

- Thành phần hồ sơ, bao gồm:

+   Di chúc; biên bản phân chia thừa kế; bản án, quyết định giải quyết tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật;

+   Đơn đề nghị của người nhận thừa kế đối với trường hợp người nhận thừa kế là người duy nhất.

+   Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất (nếu có) bao gồm:

a)  Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b)  Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;

c)  Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;

d)  Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ)  Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật;

e)  Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.

f)  Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ nêu trên (từ khoản a đến khoản e) mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp.

g)  Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành.

Số lượng hồ sơ: 01 (bộ)

- Thời hạn giải quyết:  Không quá mười (10) ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ cho tới ngày người sử dụng đất nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trân trọng.

LS TRẦN MINH HÙNG CHUYÊN GIA TƯ VẤN LUẬT TRÊN HTV, VTV, THVL1, THQH...

 

Luật sư tư vấn từ chối di sản.

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Thừa Kế

THỜI  HẠN TỪ CHỐI NHẬN DI SẢN THỪA KẾ LÀ BAO LÂU?

Từ chối nhận di sản thừa kế được pháp luật xác định là một quyền, không ai có thể bị buộc phải nhận di sản, nếu không muốn. Vì thế, từ chối nhận di sản cũng được coi là quyền tự do ý chí của người thừa kế. Tuy nhiên việc từ chối nhận di sản thừa kế có bị pháp luật hạn chế về thời hạn hay không?

I. CĂN CỨ PHÁP LÝ:

      - Bộ luật Dân sự năm 2015 (có hiệu lực ngày 01-01-2017)

II. NỘI DUNG TƯ VẤN:

       - Trước đây theo quy định của khoản 3 Điều 642 Bộ luật dân sự năm 2005:

      “Thời hạn từ chối nhận di sản là sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế. Sau sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận thừa kế.”

        - Tuy nhiên sau một thời gian thực hiện thì quy định trên đã gây nhiều bất cập cho người dân trong quá trình làm thủ tục chuyển dịch tài sản của người đã chết cho người còn sống. Chính vì thế,  Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định mở hơn về thời hạn từ chối nhận di sản thừa kế, cụ thể tại Khoản 3 Điều 620:

      “Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản.”

        Điều 611 BLDS năm 2015 cũng giải thích rõ thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trong trường hợp Tòa án tuyên bố một người đã chết, thì thời điểm mở thừa kế là ngày mà Tòa án xác định người đó đã chết. Nếu không xác định được chính xác ngày chết của người đó thì ngày bản án tuyên bố một người đã chết có hiệu lực pháp luật được coi là ngày mà người đó chết.

      

Theo quan điểm của chúng tôi thì việc thay đổi thời hạn trên là hoàn toàn phù hợp với thực tế quan hệ dân sự bởi những nguyên nhân sau:

        *Thứ nhất, việc từ chối nhận di sản là quyền của người được hưởng thừa kế nhằm thể hiện ý chí khước từ nhận các di sản. Nó là quyền chứ không phải là nghĩa vụ nên không cần thiết phải giới hạn thời hạn trong một mức thời gian cụ thể.
         *Thứ hai, thực tiễn cho thấy có rất nhiều trường hợp người thừa kế không biết về việc mở thừa kế (ví dụ như do cư trú ở nước ngoài, do đi xa không có mặt tại địa điểm mở thừa kế, …) nên không thực hiện được quyền từ chối trong thời hạn mà pháp luật quy định. Vì thế, không nên giới hạn thời gian được quyền từ chối của người thừa kế, miễn là việc thực hiện ý định từ chối được thực hiện trước thời điểm phân chia di sản và được thực hiện theo quy định của pháp luật thì sẽ được xem là lời từ chối hợp pháp.

      - Mặc dù không bị giới hạn về thời hạn từ chối nhận di sản thừa kế thì người từ chối cũng phải tuân thủ các quy định sau đây nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người khác:

    + Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

    + Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết.Trân trọng.

LS TRẦN MINH HÙNG CHUYÊN GIA TƯ VẤN LUẬT TRÊN HTV, VTV, THVL1…

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội.

     Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hình uy tín như:  Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Truyền hình Quốc Hội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ Đại án Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như và Viettinbank, các vụi Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái.… và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Trân trọng cảm ơn.

ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)

Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)
5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)
68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 028-38779958; Fax: 08-38779958
Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006
Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. " target="_blank" data-cke-saved-' + path + '\'' + prefix + ':' + addy67596 + '\'>'); document.write(addy_text67596); document.write('<\/a>'); //-->\n This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
http://www.luatsuthanhpho.com
LS TRẦN MINH HÙNG CHUYÊN GIA TƯ VẤN LUẬT TRÊN HTV, VTV, THVL1…

Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện thừa Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế tối đa là 30 năm

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Thừa Kế

Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện thừa Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế tối đa là 30 năm

Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện về thừa kế

Khi xác định thời hiệu khởi kiện về thừa kế cần lưu ý thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện về thừa kế:

Theo Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015, thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện thừa kế là khoảng thời gian xảy ra một trong các sự kiện sau đây:

- Có sự kiện bất khả kháng làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu.

Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

Như vậy, để được coi là sự kiện bất khả kháng phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

+ Là sự kiện xảy ra một cách khách quan;

+ Không thể lường trước được;

+ Không thể khắc phục được dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.

- Có trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu.

Theo đó, trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình.

Để được coi là có trở ngại khách quan phải đáp ứng đủ các điều kiện:

+ Trở ngại phải là khách quan đối với chủ thể bị tác động bởi trở ngại đó;

+ Không thể biết được quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự.

- Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, người có quyền yêu cầu là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chưa có người đại diện khác thay thế trong trường hợp sau đây:

+ Người đại diện chết nếu là cá nhân, chấm dứt tồn tại nếu là pháp nhân;

+ Người đại diện vì lý do chính đáng mà không thể tiếp tục đại diện được.

Việc xác định khoảng thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện sẽ dẫn đến thời hạn từ thời điểm mở thừa kế đến thời điểm hết thời hạn khởi kiện có thể dài hơn 10 năm (đối với di sản là động sản), dài hơn 30 năm (đối với di sản là bất động sản)........

Trân trọng.

LS TRẦN MINH HÙNG CHUYÊN GIA TƯ VẤN LUẬT TRÊN HTV, VTV, THVL...

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội.

     Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hình uy tín như:  Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Truyền hình Quốc Hội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ Đại án Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như và Viettinbank, các vụi Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái.… và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Trân trọng cảm ơn.

ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)
Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)
5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)
68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 028-38779958; Fax: 08-38779958
Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006
Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Luật sư giỏi về thừa kế tại việt nam

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Thừa Kế

Luật sư giỏi tư vấn thừa kế theo di chúc – Thừa kế theo di chúc là việc người còn sống thừa hưởng di sản của người chết để lại căn cứ theo nội dung của di chúc do người để lại di sản lập khi còn sống phù hợp với quy định của pháp luật.
    Trong thực tế, khi phát sinh việc thừa kế theo di chúc mà một trong các đồng thừa kế hoặc người bị truất quyền thừa kế có tranh chấp phát sinh liên quan đến hiệu lực của di chúc thì điều đầu tiên cần làm là phải đối chiếu với quy định của pháp luật để xem xét di chúc có hợp pháp hay không, từ đó mới đặt ra vấn đề tiếp tục thực hiện di chúc hay khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia di sản thừa kế theo phá luật.
    Trong phạm vi chuyên đề này, chúng tôi tập trung vào đặc điểm pháp lý, điều kiện, thủ tục và hình thức của di chúc theo quy định tại Chương XXIII của Bộ luật Dân sự.
    Điều 646. Di chúc
        Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.
    Điều 647. Người lập di chúc
        1/. Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức hoặc làm chủ hành vi của mình.
        2/. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
    Điều 648. Quyền của người lập di chúc
        Người lập di chúc có các quyền sau đây:
        1/. Chỉ định người thừa kế, truất quyền của hưởng di sản của người thừa kế;
        2/. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;
        3/. Dành một phần trong khối di sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;
        4/. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;
        5/. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản;
    Điều 649. Hình thức của di chúc
        Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.
        Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình.
    Điều 650. Di chúc bằng văn bản
        Di chúc bằng văn bản bao gồm:
        1/. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng;
        2/. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng;
        3/. Di chúc bằng văn bản có di chúc;
        4/. Di chúc bằng văn bản có chứng thực.
    Điều 651. Di chúc miệng
        1/. Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.
        2/. Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.
    Trên đây là những quy định pháp luật mang tính cơ bản về lập di chúc để xem xét vấn đề thừa kế theo di chúc được quy định tại Bộ luật dân sự. Ngoài ra, trong quá trình xác lập di chúc hoặc phân chia di sản thừa kế theo di chúc thì chúng ta cần phải tìm hiểu thêm các quy định về điều kiện, thủ tục lập di chúc để đảm bảo tính hợp pháp của di chúc, các trường hợp thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, di tặng, di sản dùng vào việc thờ cúng, thực hiện nghĩa vụ thay cho người để lại di chúc, công bố di chúc… được quy định tại Bộ luật dân sự.
    Trường hợp quý vị muốn lập di chúc hoặc có thắc mắc về việc thừa kế theo nội dung di chúc mà không thể tự mình xử lý được vấn đề, giải pháp an toàn và hiệu quả nhất là nhờ luật sư giỏi tư vấn thừa kế theo di chúc hoặc luật sư giỏi tư vấn lập di chúc để có được sự trợ giúp pháp lý hiệu quả nhất, phòng tránh mọi rủi ro pháp lý có thể phát sinh về sau.
Trân trọng.

LS TRẦN MINH HÙNG CHUYÊN GIA TƯ VẤN LUẬT TRÊN TRUYỀN HÌNH TPHCM

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội.

     Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hình uy tín như:  Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Truyền hình Quốc Hội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ Đại án Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như và Viettinbank, các vụi Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái.… và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Trân trọng cảm ơn.

ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)

Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)
5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)
68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 028-38779958; Fax: 08-38779958
Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006

Giải quyết tranh chấp tài sản chung của dòng họ

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Thừa Kế

Giải quyết tranh chấp tài sản chung của dòng họ

CHU XUÂN MINH (Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) – Tòa án nhân dân tối cao đang xây dựng Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán về Giải quyết tranh chấp tài sản chung của dòng họ (đã có Dự thảo 2). Tác giả xin có một số ý kiến trao đổi cùng bạn đọc một số nội dung còn nhiều ý kiến khác nhau về dự thảo Nghị quyết này.

1.Vướng mắc trong thực tiễn xét xử

Vướng mắc lớn nhất trong thực tiễn xét xử là xác định địa vị pháp lý của dòng họ. Có Tòa án xác định dòng họ là một chủ thể, có Tòa án không coi dòng họ là một chủ thể. Dù xác định dòng họ là một chủ thể hay không phải một chủ thể thì những thành viên khác của dòng họ cũng được coi là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do vậy, số lượng đương sự trong vụ án liên quan đến dòng họ là rất nhiều người, ở rất nhiều nơi. Việc có một số thành viên của dòng họ không xác định được địa chỉ là vấn đề thường xuyên của các vụ án liên quan đến dòng họ. Số đơn khởi kiện bị trả lại, số vụ việc bị đình chỉ việc giải quyết do có đương sự không xác định được địa chỉ là khá nhiều trong khi đồng thời với sự phát triển về kinh tế, văn hóa thì tranh chấp về tài sản chung của dòng họ, nhất là nhà thờ họ cũng tăng lên.

2.Tư cách chủ thể quan hệ tố tụng của dòng họ

Tư cách chủ thể quan hệ tố tụng được xác định theo chủ thể quan hệ dân sự hay nói cách khác là có tư cách chủ thể quan hệ dân sự thì mới có tư cách chủ thể quan hệ tố tụng dân sự. Điều 101 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 về Chủ thể trong quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân đã quy định:

“1. Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”.

Dòng họ là một tổ chức không có tư cách pháp nhân. Theo quy định tại khoản 1 Điều 101 nêu trên thì dòng họ không có tư cách chủ thể mà “ thành viên” của dòng họ mới là chủ thể của quan hệ dân sự.
Như vậy, trong tố tụng dân sự, dòng họ không thể trở thành đương sự như pháp nhân mà là các thành viên của dòng họ mới có thể trở thành đương sự. Cũng vì không có đương sự là Dòng họ nên không có việc Trưởng họ là đại diện theo pháp luật của Dòng họ; Trưởng họ có thể được dòng họ giao rất nhiều quyền nhưng trong tố tụng dân sự thì cũng chỉ là đại diện theo ủy quyền của các cá nhân là thành viên của dòng họ.

Điều 211 BLDS năm 2015 về Sở hữu chung của cộng đồng quy định:

“1. Sở hữu chung của cộng đồng là sở hữu chung của dòng họ, thôn, ấp, bản. làng, buôn…
2. Các thành viên của cộng đồng cùng quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung theo thỏa thuận hoặc theo tập quán vì lợi ích chung của cộng đồng…”.

Như vậy, quyền và nghĩa vụ của các thành viên của dòng họ là bình đẳng, trực tiếp đối với tài sản chung. Do vậy, khi thấy tài sản chung bị xâm phạm hay quyền lợi thành viên của mình bị xâm phạm thì bất cứ thành viên nào của dòng họ cũng có quyền khởi kiện, yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự chứ không cần có sự ủy quyền của các thành viên khác. Tuy nhiên, người khởi kiện là nguyên đơn, người bị kiện (người mà nguyên đơn cho rằng đã xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của họ) là bị đơn, còn các thành viên khác của dòng họ thì đều là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

3. Về thành viên của dòng họ

Mỗi thành viên của dòng họ là một chủ thể độc lập của quan hệ tố tụng, là một đương sự trong quan hệ tranh chấp về tài sản chung của dòng họ. Do vậy, xác định Thành viên của dòng họ là việc quan trọng. Xác định không đúng thành viên của dòng họ là xác định không đúng đương sự của vụ án, là sai lầm nghiêm trọng về tố tụng.

Dòng họ theo nghĩa thông thường là những người cùng họ và có quan hệ huyết thống. Tuy nhiên, cách xác định dòng họ có ảnh hưởng của các yếu tố tập quán, vùng miền khác nhau. Có dòng họ được xác định chỉ gồm những người cùng huyết thống là nam giới (suất đinh). Có dòng họ xác định gồm những người cùng họ có quan hệ huyết thống không phân biệt nam nữ. Có dòng họ còn bao gồm chồng hoặc vợ của những người cùng họ. Có dòng họ được xác định với các thành viên có thành phần rộng hơn các trường hợp nêu ở trên.
Sẽ là khó khăn và có thể không hợp lý nếu chỉ chọn một trong các loại dòng họ nêu trên là dòng họ chuẩn. Vì vậy, nếu không có tranh chấp về tư cách thành viên của dòng họ thì cần xác định thành viên của dòng họ theo nghĩa thông thường, tức là bao gồm những người cùng họ và có quan hệ huyết thống. Trong trường hợp có tranh chấp về thành viên của dòng họ thì phải yêu cầu các đương sự chứng minh về sự thỏa thuận hay quy ước của dòng họ ấy về thành viên.

4.Về tài sản chung của dòng họ

Chế định pháp luật tài sản chung của dòng họ có một số vấn đề cần được nghiên cứu, hướng dẫn. Đó là: Mục đích thỏa mãn lợi ích chung hợp pháp của cộng đồng là gì? Tài sản chung hợp nhất không phân chia thì có được chuyển giao cho người thừa kế không? Hoa lợi, lợi tức có được phân chia hay không? Khoản 1 Điều 211 BLDS năm 2015 quy định nhiều nguồn của tài sản chung của công đồng nhưng đều là “nhằm mục đích thỏa mãn lợi ích chung hợp pháp của cộng đồng”. Quy định này cần được hiểu là một yếu tố bắt buộc cấu thành tài sản chung của cộng đồng.

Ví dụ: Nhà thờ họ có mục đich thờ cúng của cả họ. Đó là tài sản chung của dòng họ, là sở hữu chung của cộng đồng, phải áp dụng các quy định của pháp luật về sở hữu chung của cộng đồng. Nhưng một nhóm thành viên trong họ góp vốn cùng nhau làm một nhà thi đấu thể thao trong khuôn viên của nhà thờ thì nhà thi đấu này không phải loại tài sản chung của cộng đồng vì nó không có mục đích thõa mãn lợi ích chung của dòng họ. Việc tranh chấp nhà thi đấu này được áp dụng pháp luật về sở hữu chung theo phần bình thường như những tài sản chung khác.

Khoản 3 Điều 211 BLDS năm 2015 quy định: “Tài sản chung của cộng đồng là tài sản chung hợp nhất không phân chia”. Như vậy, tài sản chung của dòng họ tồn tại với tư cách là của chung của dòng họ, không phải tài sản chung thông thường nên không thể có việc chuyển giao cho những người thừa kế khi thành viên của dòng họ qua đời. Việc được quyền thừa kế hay không còn liên quan đến quyền tham gia tố tụng với tư cách đương sự.

Ví dụ: Một người phụ nữ là thành viên của dòng họ A. Ở những vùng không có tập quán theo họ mẹ thì người con không phải là thành viên cùng dòng họ với mẹ. Vì vậy, khi người phụ nữ đã chết thì chồng và con của người ấy không được quyền thừa kế một phần nhà thờ họ, không được quyền kế thừa tư cách thành viên của dòng họ để tham gia tố tụng trong vụ án tranh chấp nhà thờ của dòng họ A.

Tài sản chung của dòng họ là sở hữu chung hợp nhất không phân chia. Tuy nhiên, hoa lợi, lợi tức từ tài sản chung này có thể được phân chia không? Nếu chấm dứt sở hữu chung thì có thể phân chia không?
Thực tế, tài sản chung của dòng họ có thể có hoa lợi, lợi tức khá lớn, không dùng hết vào việc duy trì, quản lý tài sản chung mà xuất hiện nhu cầu được chia của các thành viên. Có những nhà thờ họ đồng thời là nhà cổ thuộc địa điểm thạm quan được thu tiền. Có nhà thờ họ trở thành một điểm thờ cúng có sự đóng góp của nhiều người thường xuyên.

Tác giả cho rằng việc chia hoa lợi, lợi tức không phải là chia làm cho tài sản chung không còn tồn tại nên không vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 211.

Việc chấm dứt tài sản chung thì cũng phải được phân chia. Khi còn tồn tại là tài sản chung của dòng họ thì không phân chia nhưng khi tất cả các thành viên đã định đoạt chấm dứt sự tồn tại của tài sản chung thì không thể không phân chia.

5. Về đại diện trong giải quyết tranh chấp tài sản chung của dòng họ

Vấn đề đại diện là vướng mắc lớn nhất trong thực tiễn xét xử tranh chấp tài sản chung của dòng họ. Vì vậy, đây cũng là vấn đề quan trọng nhất của Nghị quyết. Do số lượng thành viên của dòng họ rất lớn, đặc biệt là cư trú ở nhiều nơi nên việc không tìm thấy địa chỉ của một số thành viên thường xuyên xảy ra. Có hai phương án được nêu ra để khắc phục vướng mắc này:

– Một là: Xác định vụ việc tranh chấp tài sản chung của dòng họ là việc đặc biệt, đã có đa số đại diện cho quyền lợi chung nên có thể giải quyết vắng mặt những người không tìm thấy địa chỉ. Đồng thời giành cho những người vắng mặt quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ khi họ trở về.

– Hai là: Tòa án chỉ định người đại diện cho những người không tìm thấy địa chỉ từ các thành viên có quyền lợi không đối lập với người mà họ đại diện.

Cả hai phương án trên đều không trái với một quy định nào đã có trong luật nên Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán đều có thể chọn để quy định. Tác giả bài viết này chọn phương án thứ hai vì các lẽ sau:
Phương án cử người đại diện đảm bảo việc giải quyết toàn bộ vụ án. Đặc trưng của loại tranh chấp tài sản chung của dòng họ là những người đã lâu không có liên lạc với dòng họ thì quyền lợi của họ không bị ảnh hưởng nhiều khi họ không được trực tiếp tham gia tố tụng. Việc giải quyết dứt điểm vụ án sẽ tạo tâm lý tốt cho các đương sự trong vụ án để chấm dứt hẳn tranh chấp, tránh những hậu quả phức tạp nếu còn phải tiếp tục giải quyết (trường hợp người vắng mặt được tiếp tục khởi kiện).

Theo quy định của BLDS năm 2015 về đại diện thì người đại diện theo pháp luật của cá nhân (Điều 136) có thể là:

“3. Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện…
4. Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự”.
Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân (Điều 137) có thể là: “ Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án”.

Từ những quy định về đại diện nêu trên cho thấy việc xác định Tòa án được quyền chỉ định người đại diện là có căn cứ và hợp lý. Đó cũng chính là căn cứ để giao cho Tòa án chỉ định người đại diện đối với những trường hợp mà luật chưa quy định như trường hợp thành viên của dòng họ chưa tìm thấy địa chỉ.

6.Về phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết

BLDS năm 2015 đã giành Chương VI để quy định về loại chủ thể “Hộ gia đình, Tổ hợp tác và tổ chức khác không có tư cách pháp nhân” (từ Điều 101 đến Điều 104).

Điều 211 của Bộ luật quy định về sở hữu chung của cộng đồng là “ sở hữu của dòng họ, thôn, ấp, bản , làng, phum, sóc, công đồng tôn giáo và công đồng dân cư khác”.

Như vậy, dòng họ là một tổ chức không có tư cách pháp nhân có những đặc điểm tương đồng với các tổ chức không có tư cách pháp nhân khác cũng thường là đương sự trong các vụ việc dân sự. Do đó, phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán nên chăng cần mở rộng đối với các chủ thể của Chương VI nêu trên. Đặc biệt là đối với chủ thể Hộ gia đình và Tổ hợp tác, quy định của BLDS năm 2015 có khác biệt căn bản với quy định của BLDS năm 2005 về hai chủ thể này nên càng cần sớm có hướng dẫn cụ thể.

Nguồn: Tạp chí Toà án

Giới Thiệu Luật Sư Trần Minh Hùng

link s75   Luật sư Trần Minh Hùng là một trong những luật sư có nhiều kinh nghiệm về kiến thức, thực tiễn và đã từng thắng nhiều vụ kiện. Luật sư Minh Hùng luôn coi trọng chữ Tâm của nghề luật sư và trách nhiệm đối với xã hội nên đã được nhiều hãng báo chí, truyền thông, phỏng vấn về nhiều lĩnh vực quan trọng liên quan đến đời sống xã hội và được mời làm ban giám khảo các cuộc thi liên quan đến pháp luật... 
Hotline:0972238006