Luật Sư Thừa Kế

Luật sư tư vấn về quyền hưởng thừa kế của con ngoài giá thú

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Thừa Kế

1.Con ngoài giá thú được hưởng thừa kế không?

Hiện nay, mặc dù việc sử dụng từ “con ngoài giá thú” khá phổ biến nhưng trong các văn bản pháp luật thì chưa có bất kỳ quy định cụ thể nào. Có thể hiểu một cách đơn giản, con ngoài giá thú là con được sinh ra không trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp.

Tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình (Luật HN&GĐ) 2014, việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện. Do đó, sẽ bị coi là con ngoài giá thú trong các trường hợp:

- Do hai người độc thân không đăng ký kết hôn sinh ra;

- Do nam nữ ngoại tình với nhau sinh ra.

Đồng thời, theo quy định tại khoản 2 Điều 68 Luật HN&GĐ, con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ đều có quyền, nghĩa vụ như nhau với cha mẹ của mình.

Do đó, có thể thấy, dù là con ngoài giá thú hay con được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân thì đều có quyền, nghĩa vụ với cha mẹ như nhau. Bởi vậy, nếu cha mẹ chết thì con ngoài giá thú vẫn được hưởng thừa kế nếu không thuộc trường hợp bị truất quyền thừa kế hoặc từ chối di sản thừa kế.

2. Con ngoài giá thú nhận thừa kế thế nào?

Việc nhận thừa kế hiện đang được thực hiện theo 02 hình thức: Theo di chúc và theo pháp luật.

2.1. Con ngoài giá thú được hưởng thừa kế theo di chúc

Căn cứ theo Điều 609 và Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015, cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật và có các quyền sau đây:

• Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

• Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

• Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

• Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

• Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

Như vây, căn cứ theo quy định trên, con ngoài giá thú có quyền được hưởng thừa kế trừ trường hợp bị truất thừa kế hoặc tự nguyện từ chối không nhận thừa kế, không thuộc đối tượng không được quyền hưởng di sản theo quy định pháp luật, có thể là thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật.

Ngoài ra, trường hợp con ngoài giá thú không được chỉ định là người thừa kế nhưng thuộc một trong hai trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 thì vẫn được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật mà không phụ thuộc vào nội dung di chúc.

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2.2. Con ngoài giá thú được hưởng thừa kế theo pháp luật

Theo khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, người thừa kế theo pháp luật được chia thành 03 hàng thừa kế như sau:

• Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

• Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

• Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Vì vậy, dù có là con ngoài giá thú hay con được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân thì vẫn được pháp luật bảo vệ quyền hưởng di sản thừa kế theo quy định của pháp luật, các con đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất không có sự phân biệt và được hưởng phần di sản thừa kế theo pháp luật ngang bằng nhau, trừ trường hợp bị truất thừa kế hoặc tự nguyện từ chối không nhận thừa kế, không thuộc đối tượng không được quyền hưởng di sản theo quy định pháp luật.

3. Con ngoài giá thú không có tên trong di chúc nhưng chưa thành niên được hưởng thừa kế như thế nào?

Theo quy định của Bộ Luật Dân sự 2015, những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

– Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng

– Con thành niên mà không có khả năng lao động.

trừ trường hợp từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc thuộc trường hợp những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật Dân sự 2015, gồm:

• Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó

• Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản

• Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng

• Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Vì vậy trong trường hợp con ngoài giá thú không có tên trong di chúc nhưng là con chưa thành niên không có khả năng lao động thì vẫn được hưởng ít nhất 2/3 suất của một người thừa kế.

12.20205

Luật sư Trần Minh Hùng chuyên gia tư vấn luật trên kênh HTV, VTV, THVL1, ANTV, SCTV1...

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội. 

Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hình uy tín như:  Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Truyền hình Công an ANTV, SCTV, THQH, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Truyền hình Quốc Hội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ đại án Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như và Viettinbank, Vụ cướp 35 tỷ Long Thành - Dầu giây, Chống thi hành công vụ mùa Covid, các vụ Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái... và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Chúng tôi cùng tư vấn luật và cố vấn pháp lý cho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước rất lâu năm.

Trân trọng cảm ơn.

ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)

Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)

5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)

68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TP.HCM

Điện thoại: 028-38779958; Fax: 08-38779958

Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

http://www.luatsugiadinh.net. vn

http://www.luatsuthanhpho.com

Luật sư tư vấn ba loại tài sản cần lưu ý trong di chúc có yếu tố nước ngoài

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Thừa Kế

1.Thừa kế có yếu tố nước ngoài là gì?

Thừa kế được xem là thừa kế có yếu tố nước ngoài nếu thuộc các trường hợp sau:

– Người để lại tài sản là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài;

– Người thừa kế tài sản là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài;

– Tài sản thừa kế ở nước ngoài.

 

 

2. Di chúc là gì?

 

Di chúc là việc một người muốn chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi mình chết đi. Theo đó, di chúc có di chúc miệng và di chúc bằng văn bản. Chỉ khi không thể lập bằng văn bản thì mới sử dụng hình thức di chúc miệng.

 

Như vậy, di chúc có yếu tố nước ngoài là di chúc có một hoặc một số đặc điểm liên quan đến nước ngoài, cụ thể gồm:

 

- Người lập di chúc và người nhận thừa kế theo di chúc là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài;

 

- Địa điểm lập di chúc ở nước ngoài;…

3. Ba loại tài sản cần lưu ý trong di chúc

Ngoài những lưu ý nêu trên, vấn đề tài sản nào người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài được nhận thừa kế cũng rất quan trọng. Sau đây, xin lưu ý về 03 loại tài sản thường gặp nhất.

Tài sản là nhà ở

Với tài sản là nhà ở thì người nước ngoài phải thuộc diện được sở hữu nhà ở theo quy định tại Luật Nhà ở 2014 thì mới có quyền đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, nếu không thì chỉ được hưởng giá trị của căn nhà đó.

Cụ thể, theo Điều 8 Luật Nhà ở 2014, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được công nhận quyền sở hữu nhà ở thì phải được phép nhập cảnh vào Việt Nam.

Với người nước ngoài thì được nhận thừa kế nhà ở tại Việt Nam gồm căn hộ chung cư, nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Được phép nhập cảnh vào Việt Nam;

- Không thuộc diện được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự.

(Căn cứ Điều 159 Luật Nhà ở 2014)

Trong đó, người nước ngoài chỉ được nhận thừa kế không quá 30% số lượng căn hộ trong một tòa chung cư... Nếu không thuộc các trường hợp trên thì người nước ngoài chỉ được hưởng giá trị của nhà ở đó.

Người nước ngoài chỉ được sở hữu nhà ở tối đa không quá 50 năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận và có thể được gia hạn nếu có nhu cầu. Thời hạn sở hữu nhà ở phải ghi rõ trong giấy chứng nhận.

Tài sản là đất ở

Điều 186 Luật Đất đai 2013, sửa đổi, bổ sung 2018 quy định, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng có quyền sở hữu nhà ở thì cũng có quyền sở hữu đất ở gắn liền với nhà ở tại Việt Nam và được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đất ở.

Người nhận thừa kế theo di chúc sẽ không được cấp Giấy chứng nhận nếu là:

- Người nước ngoài;

- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không được nhập cảnh vào Việt Nam.

Những người này chỉ được hưởng giá trị của nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở khi nhận thừa kế nhưng được chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất thừa kế cho người khác.

- Được đứng tên bên bán trong Hợp đồng mua bán nhà;

- Được đứng tên bên tặng cho trong Hợp đồng tặng cho đất;

- Nếu chưa bán hoặc cho thì có thể ủy quyền về việc nhận thừa kế gửi cơ quan đăng ký đất đai để cập nhật vào Sổ địa chính.

Ngoài ra, người nhận thừa kế không được cấp giấy chứng nhân có thể ủy quyền cho người khác trông nom, tạm sử dụng và thực hiện nghĩa vụ về đất đai.

Tài sản là tiền mặt

Theo quy định tại Thông tư 15/2011/TT-NHNN, nếu tài sản thừa kế theo di chúc là tiền mặt mà người hưởng di sản muốn mang theo ra nước ngoài thì phải khai báo Hải quan nếu trên:

- 5000 USD hoặc các loại ngoại tệ khác có giá trị tương đương;

- 15 triệu đồng.

Tuy nhiên, nếu mang séc du lịch, thẻ ngân hàng, sổ tiết kiệm, các loại chứng khoán và giấy tờ khác có giá trị bằng ngoại tệ hoặc tiền đồng Việt Nam thì không cần phải khai báo.

ANTV5

Luật sư Trần Minh Hùng chuyên gia tư vấn luật trên kênh HTV, VTV, THVL1, ANTV, SCTV1...

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội. 

Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hình uy tín như:  Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Truyền hình Công an ANTV, SCTV, THQH, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Truyền hình Quốc Hội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ đại án Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như và Viettinbank, Vụ cướp 35 tỷ Long Thành - Dầu giây, Chống thi hành công vụ mùa Covid, các vụ Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái... và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Chúng tôi cùng tư vấn luật và cố vấn pháp lý cho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước rất lâu năm.

Trân trọng cảm ơn.

ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)

Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)

5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)

68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TP.HCM

Điện thoại: 028-38779958; Fax: 08-38779958

Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

http://www.luatsugiadinh.net. vn

http://www.luatsuthanhpho.com

Luật sư tư vấn cho nhập hộ khẩu có phải chia tài sản thừa kế?

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Thừa Kế

1. Con riêng có được nhận di sản thừa kế không?

Xin chào luật sư, tôi có câu hỏi muốn nhờ luật sư tư vấn giúp như sau: Bố mẹ tôi có đăng ký kết hôn vào năm 1990. Tôi là con chung duy nhất của bố mẹ tôi. Đến năm 2008, bố tôi đi làm ăn xa và có người khác, có con riêng với người này, nhưng bố tôi vẫn chưa ly hôn với mẹ tôi. Tháng 05 vừa qua, bố tôi mất đột ngột không để lại di chúc, tài sản chung của bố mẹ tôi là mảnh đất thổ cư trên có xây dựng nhà 04 tầng. Mảnh đất này đã được cấp sỏ đỏ. Vậy cho tôi hỏi: Người con riêng của bố tôi có được hưởng tài sản thừa kế của bố tôi không?

Mong sớm nhận được câu hỏi của Luật sư, tôi xin cảm ơn

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi của mình đến công ty Luật Phạm Law, về câu hỏi của bạn chúng tôi xin tư vấn như sau:

1. Căn cứ pháp lý

Bộ luật dân sự năm 2015

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

2. Luật sư tư vấn

Căn cứ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3.Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Như vậy, trong trường hợp này, theo như thông tin bạn cung cấp thì mảnh đất thổ cư này là tài sản chung của bố mẹ bạn trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, bạn phải chứng minh được mảnh đất và căn nhà được xây dựng trên mảnh đất này là tài sản chung của bố mẹ bạn: nhận chuyển nhượng trong thời kỳ hôn nhân do cả hai người cùng nhận chuyển nhượng; cùng được tặng cho; cùng được thừa kế.

Sau khi bố bạn mất, tài sản này về nguyên tắc sẽ được chia đôi cho mẹ bạn theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

“1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.”

Như vậy, trước tiên, mảnh đất và căn nhà này sẽ được chia cho mẹ bạn một nửa, căn cứ vào giá trị tài sản của mảnh đất này, phần còn lại sẽ được xác định là di sản thừa kế của bố bạn để lại. Do bố bạn không để lại di chúc nên phần di sản này sẽ được chia theo pháp luật và chia theo hàng thừa kế. Căn cứ theo quy định của Bộ Luật dân sự năm 2015:

“Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

Như vậy, theo như thông tin bạn cung cấp thì bố mẹ bạn chỉ có mình bạn là con chung duy nhất, và bố bạn cũng có một người con riêng. Theo đó, di sản thừa kế của bố bạn sẽ được chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất bao gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của bố bạn. Mỗi người thuộc hàng thừa kế này sẽ nhận được phần di sản như nhau. Di sản của bố bạn chỉ gồm một nửa mảnh đất thổ cư và giá trị một nửa căn nhà. Việc bên nào nhận cả căn nhà và cả mảnh đất do các bên thỏa thuận với nhau, bên nào nhận toàn bộ thì phải trả cho bên còn lại giá trị tương ứng mà họ được nhận.

Việc người con riêng của bố bạn có được nhận di sản của bố bạn hay không tùy thuộc vào các trường hợp sau:

Thứ nhất, người con riêng này phải chứng minh được mình có quan hệ cha con với bố của bạn. Người này cần phải yêu cầu Tòa án xác nhận quan hệ cha con giữa mình với bố bạn bởi giữa bố bạn và mẹ của người này không phát sinh quan hệ vợ chồng nên đương nhiên cũng không tự nhiên phát sinh quan hệ cha con giữa bố bạn và người con riêng này. Sau kkhi bố bạn mất thì cần phải có quyết định hoặc bản án của Tòa án về việc xác nhận quan hệ cha, con giữa bố bạn và người con riêng này thì người con riêng này mới được hưởng di sản thừa kế của bố bạn.

Tuy nhiên, nếu trong thời gian bố bạn còn sống, đã làm thủ tục xác nhận quan hệ cha, con với người này tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì văn bản xác nhận đó vẫn còn hiệu lực pháp luật và người con riêng này đương nhiên được hưởng di sản thừa kế của bố bạn để lại.

Thứ hai, trường hợp người con riêng của bố bạn không chứng minh được mình có quan hệ cha, con với bố bạn thì họ sẽ không được hưởng di sản thừa kế mà bố bạn để lại.

2. Cha mẹ phân chia tài sản có cần sự đồng ý của các con?

Câu hỏi:

Ba mẹ tôi sống với nhau từ lâu, nhưng mãi đến năm 2009 mới đăng ký kết hôn và có 3 người con 22 tuổi, 19 tuổi và 12 tuổi. Hiện nay, cha mẹ tôi tách ra làm ăn riêng nên muốn thỏa thuận chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân: gồm 2 mảnh đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng do cha mẹ tôi đứng tên cấp năm 2010 và 1 căn nhà cũng mang tên ba mẹ tôi. Như vậy tài sản của ba mẹ tôi sẽ được chia như thế nào? Khi làm văn bản phân chia tài sản thì có cần người con 22 tuổi và 19 tuổi ký nhận đồng ý không?

Trả lời:

Với câu hỏi của bạn, Luật Hoàng Phi xin tư vấn như sau:

Để xác định việc hai người con 22 tuổi và 19 tuổi có phải ký nhận đồng ý vào văn bản thỏa thuận tài sản riêng vợ chồng của ba mẹ bạn hay không thì cần phải xác định: Quyền sử dụng thửa đất và quyền sở hữu ngôi nhà là tài sản chung của vợ chồng (của ba mẹ bạn) hay là tài sản chung của hộ gia đình.

Thứ nhất: Nếu quyền sử dụng đất và quyền sở hữu ngôi nhà là tài sản chung của ba mẹ bạn.

Theo quy định tại Điều 38 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì:

“1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.”

Theo quy định trên, ba mẹ bạn có thể thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, nếu như không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết (thường thì tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia đôi).

Trong trường hợp này, ba mẹ bạn sẽ được toàn quyền quyết định phân chia tài sản nêu trên, các con không có quyền thỏa thuận phân chia tài sản . Do vậy, khi ba mẹ bạn tiến hành phân chia tài sản chung vợ chồng thì không cần sự đồng ý của các con.

Thứ hai: Nếu quyền sử dụng đất và quyền sở hữu ngôi nhà là tài sản chung của hộ gia đình.

Tài sản chung của hộ gia đình được quy định tại Điều 108 Bộ luật dân sự 2005 như sau:

“Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ.”

Nếu như quyền sử dụng đất và quyền sở hữu ngôi nhà là do các thành viên trong gia đình bạn cùng đóng góp, tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, thừa kế chung hoặc do thỏa thuận thì sẽ được coi là tài sản chung của hộ gia đình bạn.

Quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình được quy định tại Điều 109 Bộ luật dân sự như sau:

“1. Các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của hộ theo phương thức thoả thuận.

2. Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý.”

Theo như quy định trên, pháp luật cho phép các thành viên trong gia đình bạn được quyền thỏa thuận phân chia tài sản của hộ gia đình, các thành viên trong gia đình có công sức đóng góp, tạo lập nên tài sản đều có quyền đối với tài sản chung này. Do đó, nếu quyền sử dụng đất và quyền sở hữu căn nhà nói trên là tài sản của hộ gia đình bạn thì khi ba mẹ bạn thực hiện phân chia số tài sản trên thì phải được sự đồng ý của các con từ 15 tuổi trở lên.

3. Cho nhập hộ khẩu có được chia tài sản?

Khoản 1 điều 24 Luật Cư trú 2006 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cư trú năm 2013 quy định cụ thể: "Sổ hộ khẩu được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký thường trú và có giá trị xác định nơi thường trú của công dân". Vì vậy, việc có tên trong sổ hộ khẩu chỉ có ý nghĩa quản lý hành chính, xác định nơi thường trú của công dân chứ không ảnh hưởng đến quyền sở hữu tài sản của công dân.

Ngoại lệ, sổ hộ khẩu chỉ có ý nghĩa xác định quyền tài sản khi tài sản đó là tài sản chung của hộ gia đình. Theo quy định tại điều 212 Bộ Luật Dân sự 2015, sở hữu chung của các thành viên trong gia đình là: "Tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của bộ luật này và luật khác có liên quan". Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

Về quyền thừa kế, việc đăng ký hộ khẩu cũng không ảnh hưởng đối với quyền thừa kế. Theo quy định của Bộ Luật Dân sự 2015, quyền thừa kế được xác định theo di chúc của người để lại di sản. Trường hợp không có di chúc, di chúc không có hiệu lực, những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế; hoặc những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản thì di sản thừa kế được chia theo pháp luật, khi thừa kế được chia theo pháp luật thì những người thừa kế được xác định theo thứ tự các hàng thừa kế quy định tại điều 651 Bộ Luật Dân sự 2015.

Luật sư Trần Minh Hùng chuyên gia tư vấn luật trên kênh HTV, VTV, THVL1, ANTV, SCTV1...

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội. 

Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hình uy tín như:  Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Truyền hình Công an ANTV, SCTV, THQH, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Truyền hình Quốc Hội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ đại án Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như và Viettinbank, Vụ cướp 35 tỷ Long Thành - Dầu giây, Chống thi hành công vụ mùa Covid, các vụ Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái... và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Chúng tôi cùng tư vấn luật và cố vấn pháp lý cho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước rất lâu năm.

Trân trọng cảm ơn.

ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)

Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)

5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)

68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TP.HCM

Điện thoại: 028-38779958; Fax: 08-38779958

Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

http://www.luatsugiadinh.net. vn

http://www.luatsuthanhpho.com

Luật sư tư vấn việc chia thừa kế cho người đã chết?

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Thừa Kế


1.Phân biệt thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật.

Thừa kế sự chuyển dịch tài sản thừa kế của người đã chết cho người còn sống theo di chúc hoặc theo pháp luật. Theo quy định của pháp luật hiện hành, có 2 trường hợp thừa kế đó là thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc. Thừa kế trong mỗi trường hợp này có điểm gì khác nhau? Trong bài viết này chúng tôi sẽ so sánh sự giống và khác nhau giữa thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật

Khái niệm các loại thừa kế

Thừa kế theo di chúc: là sự thể hiện ý chí, nguyện vọng của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.

Thừa kế theo pháp luật: là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.

Về người được thừa kế

Thừa kế theo di chúc: tất cả các các nhân, tổ chức có tên trong di chúc và đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, trọng ý chí của người lập di chúc. Tuy nhiên, trong trường hợp nếu cha, mẹ, vợ, chồng, con chưa thành niên; con đã thành niên mà không có khả năng lao động nếu không có tên trong di chúc thì vẫn được hưởng một phần di sản tối thiểu bằng 2/3 một suất thừa kế. Thừa kế theo pháp luật: thứ tự được quy định như sau:

– Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ ,chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, con nuôi, cha nuôi, mẹ nuôi của người chết

– Hàng thừa kế thứ hai: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh, chị em, ruột của người đã chết, cháu ruột của người đã chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.

– Hàng thừa kế thứ ba: cụ nội, cụ ngoại của người đã chết; bác, chú, cậu, cô, dì ruột của người đã chết; chắt ruột của người đã chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại

Trường hợp được thừa kế

Thừa kế theo di chúc : theo ý chí, nguyện vọng của cá nhân khi lập di chúc, cá nhân được hưởng thừa kế phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế,cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế phải đang hoạt động vào thời điểm mở thừa kế; những người thuộc diện đương nhiên nhận thừa kế: cha, mẹ, vợ,chồng, con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mà không có khả năng lao động còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Thừa kế theo pháp luật gồm những trường hợp:

  • Không có di chúc
  • Di chúc không hợp pháp
  • Những người thừa kế đều chết trước hoặc cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế
  • Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản
  • Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;
  • Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;
  • Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế.

Thứ tự áp dụng: thừa kế theo di chúc được ưu tiên áp dụng trước. Thừa kế theo pháp luật chỉ được áp dụng khi rơi vào các trường hợp như phân tích ở trên.

Thừa kế thế vị

Thừa kế theo di chúc: không có thừa kế thế vị

Thừa kế theo pháp luật: Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

Phân chia di sản

Thừa kế theo di chúc:

– Được thực hiện theo ý chí của người lập di chúc, nếu di chúc không phân định rõ ràng thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc trừ trường hợp có thỏa thuận khác

– Trường hợp xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bị tiêu huỷ do lỗi của người khác thì có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.

– Trường hợp phân chia theo tỉ lệ khối di sản thì dựa vào khối di sản đang còn lại vào thời điểm mở thừa kế

Thừa kế theo pháp luật:

– Khi phân chia di sản nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng, để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra, được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.

– Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thoả thuận về việc định giá hiện vật và thoả thuận về người nhận hiện vật; nếu không thoả thuận được thì hiện vật được bán để chia.

2. Có phải chia thừa kế cho người đã chết không?

Tóm tắt câu hỏi:

Gia đình tôi có ba anh em. Bố tôi đã mất năm 2008 nhưng không để lại di chúc. Bố mẹ tôi xây dựng ngôi nhà từ cách đây 30 năm. Đứa em thứ hai của gia đình tôi lấy vợ, có ba người con, tuy nhiên năm 2010 đã mất vì tai nạn giao thông. Hiện nay, em dâu đến nhà yêu cầu mẹ tôi phải ký giấy di chúc để chia phần di sản của chồng. Xin công ty cho tôi hỏi yêu cầu của cô em dâu có được châp nhận không? Có trái quy định của pháp luật?

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, ngôi nhà là do bố mẹ bạn cùng tạo dựng nên trong thời kỳ hôn nhân, vì vậy căn nhà này là tài sản chung của bố mẹ bạn. Theo quy định của pháp Luật Hôn nhân gia đình, về nguyên tắc khi chia tài sản chung của vợ chồng, tài sản chung sẽ được chia đôi. Do bố bạn đã mất năm 2008 mà không có di chúc nên di sản thừa kế của bố bạn (nửa ngôi nhà) sẽ được chia theo quy định của pháp luật, tức là chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: ba anh em của bạn, mẹ bạn, ông bà nội của bạn (nếu còn sống).

Do người em đó mất sau thời điểm bố bạn mất nên phần tài sản mà em bạn đáng lẽ được hưởng sẽ được chia đều cho ba người con và vợ của em bạn.

Thứ hai, riêng phần nửa ngôi nhà còn lại thuộc tài sản riêng của mẹ bạn. Theo điều 646 “Bộ luật dân sự 2015” thì di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Vì vậy việc có lập di chúc hay không là hoàn toàn thuộc quyền quyết định của mẹ bạn, không ai có quyền cưỡng ép, đe dọa, điều khiển hay đòi hỏi về việc lập di chúc của mẹ bạn.

Cô em dâu sẽ không có quyền đòi mẹ bạn chia di sản nửa ngôi nhà còn lại do mẹ bạn sở hữu.

Quy định về chia thừa kế khi người hưởng di sản mất

Câu hỏi:

Xin chào luật sư, Tôi muốn hỏi vấn đề sau mong luật sư giải đáp giúp tôi. Tôi ở Hải Phòng. Ông bà ngoại tôi có bốn người con: 2 bác tôi, mẹ tôi và cậu tôi. Ông bà có một căn nhà. Bà ngoại tôi mất năm 2001, mẹ tôi mất năm 2002. Hiện giờ còn lại ông ngoại, 2 bác, cậu tôi. Nếu bây giờ phân chia di sản, thì chúng tôi là cháu ngoại có được hưởng phần di sản mà nhẽ ra mẹ tôi được hưởng hay không? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Theo khoản 1, điều 675, Bộ luật dân sự, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp. Cụ thể, khoản 1, điều 676 Bộ luật dân sự quy định những người thừa kế theo pháp luật hàng thứ nhất gồm có: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.

Như vậy, nếu bà ngoại của bạn mất không có di chúc thì mẹ bạn được thừa kế theo pháp luật phần nhà thuộc sở hữu của bà ngoại bạn (về nguyên tắc là một nửa trị giá nhà) trong căn nhà thuộc sở hữu của bà ngoại bạn. Năm 2002 mẹ bạn mất mà chưa nhận được phần di sản này thì những người thừa kế hàng thứ nhất của mẹ bạn (gồm có cha và các anh em của bạn) được thừa hưởng phần di sản mà lẽ ra mẹ bạn được hưởng nếu còn sống.

Cũng xin lưu ý thêm, theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02 ngày 10-8-2004 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao, trường hợp trong thời hạn mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế, hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu tòa án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết.

CCHC4

Luật sư Trần Minh Hùng chuyên gia tư vấn luật trên kênh HTV, VTV, THVL1, ANTV, SCTV1...

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội. 

Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hình uy tín như:  Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Truyền hình Công an ANTV, SCTV, THQH, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Truyền hình Quốc Hội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ đại án Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như và Viettinbank, Vụ cướp 35 tỷ Long Thành - Dầu giây, Chống thi hành công vụ mùa Covid, các vụ Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái... và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Chúng tôi cùng tư vấn luật và cố vấn pháp lý cho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước rất lâu năm.

Trân trọng cảm ơn.

ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)

Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)

5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)

68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TP.HCM

Điện thoại: 028-38779958; Fax: 08-38779958

Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

http://www.luatsugiadinh.net. vn

http://www.luatsuthanhpho.com

Luật sư tư vấn con riêng của vợ có được hưởng di sản của cha dượng không?

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Thừa Kế

1. Con nuôi không đăng ký có được hưởng thừa kế?

Tại Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 quy định về Người thừa kế theo pháp luật như sau:

“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.”

Ngoài ra, Điều 653 Bộ luật dân sự 2015 Quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi và cha đẻ, mẹ đẻ như sau:

“Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 651 và Điều 652 của Bộ luật này.”

Tuy nhiên, thời điểm phát sinh việc nuôi con nuôi là kể từ thời điểm đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Tại Điều 23 Nghị định 19/2011/NĐ-CP Nghị định hướng dẫn luật nuôi con nuôi 2011 quy định về Đăng ký việc nuôi con nuôi thực tế:

“1. Việc nuôi con nuôi đã phát sinh trên thực tế giữa công dân Việt Nam với nhau mà chưa đăng ký trước ngày 01 tháng 01 năm 2011, nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Nuôi con nuôi, thì được đăng ký kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của cha mẹ nuôi và con nuôi.”

Tại Điều 50 Luật nuôi con nuôi 2010 quy định Điều khoản chuyển tiếp:

“1. Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau trước ngày Luật này có hiệu lực mà chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được đăng ký trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Các bên có đủ điều kiện về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi;

b) Đến thời điểm Luật này có hiệu lực, quan hệ cha, mẹ và con vẫn đang tồn tại và cả hai bên còn sống;

c) Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhau như cha mẹ và con.

2. Sau khi được đăng ký, quan hệ nuôi con nuôi quy định tại khoản 1 Điều này có giá trị pháp lý kể từ thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi.

3. Chính phủ quy định chi tiết thủ tục đăng ký nuôi con nuôi quy định tại Điều này, bảo đảm thuận lợi và phù hợp với điều kiện thực tế của nhân dân ở các vùng, miền.”

Theo quy định trên, việc nuôi con nuôi phát sinh trước ngày 01/01/2011 thì phải đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thời hạn 05 năm kể từ ngày 01/01/2011. Khi đã được pháp luật công nhận việc nuôi con nuôi thì hai bên trong quan hệ nuôi sẽ có các quyền lợi và nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật, trong đó có quyền thừa kế di sản của nhau.

2. Con riêng của vợ có được hưởng di sản của cha dượng hay không?

Câu hỏi:

Tôi tên là H, sinh năm 1982 tại Tp. Hồ Chí Minh.

Kính nhờ Luật sư tư vấn trường hợp của gia đình tôi như sau: vào năm 1980 mẹ tôi kết hôn với ba tôi (có đăng ký kết hôn). Năm 1984 ba tôi mất, đến năm 1988 mẹ tôi tái hôn với ba dượng tôi (Ba dượng tôi có một con riêng - Chị Hà, sinh năm 1978, trước nay sống cùng với mẹ chị Hà, không theo dượng). Ba dượng và mẹ có một tài sản chung là căn nhà tại Quận 6, Tp. Hồ Chí Minh (tạo lập năm 1995). Ba dượng tôi qua đời vào tháng 3/2017, lúc còn sống ba dượng không lập di chúc. Nay con riêng của ba dượng tôi đòi chia di sản thừa kế. Tôi muốn hỏi: chị Hà không sống cùng ba dượng tôi, vậy chị có được hưởng thừa kế căn nhà trên hay không? Tôi là con riêng của mẹ nhưng tôi sống chung từ nhỏ với dượng, trong hộ khẩu dượng tôi đứng chủ hộ có ghi quan hệ với tôi là con, lúc còn sống dượng cũng nuôi dưỡng chăm sóc tôi như con đẻ của mình. Về phía tôi, từ năm 2005 đến nay tôi hàng tháng tôi đều đóng góp tiền sinh hoạt gia đình vì dượng và mẹ đã lớn tuổi, vậy tôi có được hưởng thừa kế căn nhà trên hay không? Nếu có, chúng tôi mỗi người được thừa hưởng bao nhiêu?   

Cảm ơn Luật sư đã dành thời gian tư vấn cho vụ việc của gia đình tôi, kính chúc Luật sư sức khỏe và thành công!

Giải đáp:

Theo quy định của pháp luật dân sự (Bộ luật dân sự 2015) về thừa kế thì mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật, Trong trường hợp của gia đình bạn, do người cha dượng lúc còn sống không lập di chúc do đó tài sản của ông sẽ được chia theo pháp luật (Điều 650).

Di sản của người chết để lại bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác (Điều 612). Cha dượng và mẹ bạn cùng tạo lập được tài sản chung là căn nhà tại Quận 6, Tp. Hồ Chí Minh, do đó phần di sản của cha dượng trong căn nhà này được xác định là bằng ½ giá trị căn nhà (theo quy định tại Khoản 2, Điều 66 Luật hôn nhân gia đình 2014).

 Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

Ngoài ra, Điều 654 Bộ luật dân sự 2015 cũng quy định: Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này.

Từ những quy định pháp luật mà chúng tôi đã đề cấp ở trên, thì chị Hà mặc dù không sống cùng cha dượng của bạn, nhưng đó là con đẻ của cha dượng bạn nên chị Hà được hưởng di sản cha dượng bạn để lại.

Còn trường hợp của bạn là con riêng và cha dượng, nếu giữa hai bên có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con thì được thừa kế di sản của nhau. Như vậy bạn cần xuất trình các chứng cứ để chứng minh cho việc giữa bạn và cha dượng có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con (Ví dụ như bạn có sổ hộ khẩu gia đình ghi quan hệ cha con, bạn có phụng dưỡng ông lúc tuổi già, xác nhận của địa phương nơi bạn cư trú, vv... ). khi bạn có đủ cơ sở để xác định quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con thì bạn được hưởng một phần di sản thừa kế do cha dượng bạn để lại bằng với phần thừa kế mà các đồng thừa cùng hàng thừa kế đươc hưởng.

Khi chia di sản thừa kế ½ giá trị căn nhà nêu trên sẽ được chia đều cho các đồng thừa kế.

3. Tổ chức có được hưởng thừa kế không?

Người thừa kế theo pháp luật là các nhân, không có tổ chức. Tổ chức là đối tượng người thừa kế theo di chúc.

Theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 (sau đây gọi tắt là Bộ luật dân sự), thừa kế là việc chuyển dịch tài sản của người đã chết cho người còn sống, tài sản để lại được gọi là di sản. Thừa kế theo di chúc là việc chuyển dịch tài sản thừa kế của người đã chết cho người còn sống theo sự định đoạt của người đó khi còn sống.

Thứ nhất, về quyền thừa kế của tổ chức

Bộ luật dân sự quy định về quyền thừa kế tại điều 609 như sau:

"Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. -Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc".

Theo như quy định trên thì tổ chức cũng có quyền hưởng di sản theo di chúc. Nếu có một cá nhân lập di chúc định đoạt tài sản của mình để lại di sản cho một tổ chức thì tổ chức đó sẽ trở thành người thừa kế.

Thứ hai, quy định của pháp luật về người thừa kế theo pháp luật

Theo quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự: "Người thừa kế theo pháp luật -1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: (a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; (b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; (c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại. -2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. -3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản".

Như vậy, theo quy định của pháp luật thì tổ chức không phải là đối tượng được thừa kế theo pháp luật. Chỉ có cá nhân có quyền được hưởng thừa kế theo pháp luật.

Thứ ba, điều kiện để tổ chức được hưởng thừa kế

Điều kiện để tổ chức được hưởng thừa kế được quy địnhtại Điều 613 Bộ luật dân sự như sau:

"Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp ngườithừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế."

Như vậy, pháp luật dân sự cho phép tổ chức có thể trở thành người thừa kế theo di chúc. Điều kiện để tổ chức trở thành người thừa kế là phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

20208

Luật sư Trần Minh Hùng chuyên gia tư vấn luật trên kênh HTV, VTV, THVL1, ANTV, SCTV1...

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội. 

 Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hình uy tín như:  Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Truyền hình Công an ANTV, SCTV, THQH, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Truyền hình Quốc Hội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ đại án Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như và Viettinbank, Vụ cướp 35 tỷ Long Thành - Dầu giây, Chống thi hành công vụ mùa Covid, các vụ Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái... và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Chúng tôi cùng tư vấn luật và cố vấn pháp lý cho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước rất lâu năm.

Trân trọng cảm ơn.

ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)

Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)

5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)

68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TP.HCM

Điện thoại: 028-38779958; Fax: 08-38779958

Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

http://www.luatsugiadinh.net. vn

http://www.luatsuthanhpho.com

Giới Thiệu Luật Sư Trần Minh Hùng

link s75   Luật sư Trần Minh Hùng là một trong những luật sư có nhiều kinh nghiệm về kiến thức, thực tiễn và đã từng thắng nhiều vụ kiện. Luật sư Minh Hùng luôn coi trọng chữ Tâm của nghề luật sư và trách nhiệm đối với xã hội nên đã được nhiều hãng báo chí, truyền thông, phỏng vấn về nhiều lĩnh vực quan trọng liên quan đến đời sống xã hội và được mời làm ban giám khảo các cuộc thi liên quan đến pháp luật... 
Hotline:0972238006