Luật Sư Thừa Kế

Luật Sư Chuyên Tư Vấn Tranh Chấp Thừa Kế Tại Tphcm

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Thừa Kế

I. Các nội dung tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến miễn phí qua tổng đài 0972238006

a/ Tư vấn mọi vấn đề liên quan đến di chúc, thừa kế theo di chúc

– Tư vấn các quy định của pháp luật về các loại hình di chúc, hiệu lực của từng loại di chúc, điều kiện có hiệu lực của di chúc

– Tư vấn lập di chúc, làm chứng di chúc, công chứng di chúc

– Tư vấn giải quyết các trường hợp thừa kế thế vị, tranh chấp thừa kế khi có di chúc

– Tư vấn các vấn đề khác liên quan đến di chúc, thừa kế theo di chúc…

b/ Tư vấn mọi vấn đề liên quan đến thừa kế theo pháp luật, thừa kế khi không có di chúc

– Tư vấn phân chia thừa kế theo quy định của pháp luật

– Tư vấn giải quyết các tranh chấp thừa kế theo quy định của pháp luật

– Tư vấn xác định hàng thừa kế, những người có đủ điều kiện nhân di sản

– Tư vấn các quy định của pháp luật về việc trông giữ di sản thừa kế, thừa kế có điều kiện, thừa kế đất hương hoả…

– Tư vấn các vấn đề pháp lý khác liên quan đến thừa kế không có di chúc…

c/ Tư vấn giải quyết tranh chấp di chúc, tư vấn chia di chúc trong các trường hợp khó

– Tư vấn về các phương thức giải quyết tranh chấp về thừa kế

– Tư vấn giải pháp pháp lý giải quyết tranh chấp về thừa kế nhanh nhất – đúng nhất – hiệu quả nhất

– Tư vấn chia di sản thừa kế trong các trường hợp khó: Có nhiều di chúc, di chúc chỉ quyết định 01 phần tài sản, di chúc bị hư hỏng, các trường hợp tranh chấp thừa kế kéo dài…

Như vậy, Tổng đài Luật sư Gia Đình gần như hỗ trợ tư vấn tất cả các vấn đề pháp lý liên quan đến thừa kế, chia thừa kế, tranh chấp thừa kế tại Việt Nam. 

Để được tư vấn pháp luật về thừa kế, đừng ngần ngại gì nữa, hãy nhấc máy gọi ngay cho chúng tôi qua Hotline:0972238006 để được tư vấn – hỗ trợ – giải đáp ngay lập tức! 

2. Cách thức tư vấn pháp luật thừa kế qua điện thoại

Đây là hình thức tư vấn pháp luật thừa kế được nhiều người sử dụng nhất. Qua điện thoại, các Luật sư – chuyên gia – Luật gia của chúng tôi sẽ tư vấn, giải đáp mọi thắc mắc của quý khách hàng về pháp luật thừa kế.

Để được tư vấn mọi vấn đề pháp lý về thừa kế, quý khách hàng chỉ cần kết nối với chúng tôi qua điện thoại theo hướng dẫn sau: 

– Bước 1: Dùng điện thoại gọi cho chúng tôi qua số:0972238006

– Bước 2: Nghe lời chào từ hệ thống, chọn phím số 1 theo hướng dẫn để gặp Luật sư chuyên thừa kế

– Bước 3: Trình bày vấn đề đang khúc mắc và lắng nghe tư vấn từ đội ngũ Luật sư nhiều năm kinh nghiệm của chúng tôi! 

3. Lợi ích khi sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến

– Quý khách hàng không cần tìm văn phòng Luật sư, không cần phải đặt lịch hẹn với Luật sư. Quý khách hàng chỉ cần kết nối với chúng tôi, mọi thắc mắc sẽ được tư vấn trực tuyến, ngay lập tức.

– Mọi tư vấn của chúng tôi đều là miễn phí. Chúng tôi không thu bất cứ khoản phí nào trước hoặc sau khi tư vấn. Quý khách hàng chỉ cần tự chi trả cước điện thoại theo quy định của nhà mạng khi kết nối với hệ thống. Quý khách vui lòng chuẩn bị số dư tài khoản, nội dung câu hỏi trước khi kết nối để tránh việc đàm thoại tư vấn bị ngắt quãng.

– Phương thức tư vấn đơn giản, dễ dàng kết nối và tư vấn! 

– Tổng đài Luật sư phục vụ tư vấn trên toàn quốc. 

– Thời gian phục vụ từ 7h30 sáng đến 00h00 đêm. 

– Tổng đài phục vụ tất cả các ngày trong tuần, bao gồm cả thứ bảy và chủ nhật và các ngày nghỉ lễ. 

4. Dịch vụ tư vấn pháp luật thừa kế có thu phí

Hiện tại, Luật Dương Gia cung cấp nhiều hình thức sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật thừa kế.

– Tư vấn pháp luật thừa kế trực tiếp: Luật Dương Gia sẽ cử Luật sư tư vấn trực tiếp các vấn đề liên quan đến pháp luật thừa kế tại văn phòng hoặc tại địa chỉ khách hàng yêu cầu. Để đặt lịch hẹn Luật sư, vui lòng liên hệ 0972238006

– Tư vấn soạn thảo di chúc, Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa, đại diện ngoài tố tụng để giải quyết các tranh chấp liên quan đến thừa kế.

– Để được tư vấn và hỗ trợ tốt nhất, quý khách hàng nên sử dụng hình thức tư vấn trực tuyến trước khi sử dụng các hình thức dịch vụ có thu phí. Nếu vấn đề của bạn đơn giản, có thể hỗ trợ trực tuyến chúng tôi sẽ tiến hành hỗ trợ tư vấn luôn qua hệ thống 0972238006 Nếu vấn đề của bạn phức tạp, cần xem xét thêm tài liệu, chứng cứ và buộc phải tư vấn trực tiếp chúng tôi sẽ tiếp tục hỗ trợ bạn!

II. ÁN LỆ VỀ THỪA KẾ

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH PHÚ THỌ

BẢN ÁN 14/2017/DSST NGÀY 28/09/2017 VỀ TRANH CHẤP THỪA KẾ THEO DI CHÚC

Ngày 28 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 22/2017/TLST-DS ngày 28/6/2017 về việc “Tranh chấp thừa kế theo di chúc ”theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2017/QĐXXST-DS ngày 05/9/2017, giữa các đương sự:

1.  Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1941 (Có mặt)

Địa chỉ: Khu 2, Thị trấn S, huyện C, tỉnh Phú Thọ

2.  Bị đơn: Anh Hoàng Tuyết H, sinh năm 1965 (Có mặt)

Địa chỉ: Khu Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Phú Thọ

3.  Người có quyền lợi liên quan:

- Anh Hoàng Hồng H1, sinh năm 1967 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Anh Hoàng Quốc H2, sinh năm 1973 (Có mặt)

- Anh Hoàng Quốc H3, sinh năm 1974 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Đều có địa chỉ: Khu 2, Thị trấn S, huyện C, tỉnh Phú Thọ

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 13/6/2017, bản tự khai ngày 28/6/2017 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Hoàng Thị H trình bày: Bà và ông Hoàng Minh X kết hôn khoảng năm 1960, vợ chồng bà sinh được 04 người con là Hoàng Tuyết H, sinh năm 1965; Hoàng Hồng H1, sinh năm 1967; Hoàng Quốc H2, sinh năm 1973 và Hoàng Quốc H3, sinh năm 1974. Vợ chồng bà có khối tài sản chung là quyền sử dụng thửa đất số 76, tờ bản đồ số 18 ở khu 2, Thị trấn S, huyện C, tỉnh Phú Thọ diện tích đất là 967,4 m2 (trong đó: 200 m2 đất ở và 767,4 m2 đất vườn), 01 ngôi nhà xây cấp 4, bếp và công trình phụ, công trình chăn nuôi và các tài sản khác trên diện tích đất đã được Hội đồng thẩm định và định giá tài sản ngày 21/8/2017.  Ngày 10/8/2015 bà và ông X cùng nhau lập di chúc chung của vợ chồng do ông X viết với nội dung: nếu ông X chết trước bà thì di chúc này sẽ giao lại cho bà quản lý sử dụng tài sản chung, khi bà chết sẽ giao lại cho con trai là Hoàng Hồng H1. Khi viết di chúc ông X hoàn toàn khỏe mạnh, minh mẫn, không bị ai ép buộc. Sau khi viết xong di chúc do ông X đi viện điều trị nên bản di chúc không được chứng thực. Đến ngày 12/01/2016 ông X chết, sau đó bà có họp gia đình để công bố di chúc, thì anh H cho rằng không phải chữ viết của ông X, nên gây khó khăn cho bà trong việc thay đổi nội dung di chúc. Vì chỉ có anh H1 trông nom bố mẹ lúc đau ốm, bà hiện nay tuổi cao, không con nào có trách nhiệm nên bà yêu cầu Tòa án công nhận di chúc của ông X để lại là hợp pháp, giải quyết cho bà thay đổi nội dung di chúc phần của bà và đề nghị Tòa án chia tài sản chung cho bà. Bà nhất trí các tài sản trên đất gồm:  01 ngôi nhà chính xây gạch chỉ, mái tôn diện tích 70,62 m2 trị giá 155.364.000đồng; 01 bếp lợp ploximang diện tích 15m2 trị giá 12.000.000đồng; sân lát gạch, mái tôn diện tích 62,13 m2  trị giá: 18.017.700đồng; Chuồng trại chăn nuôi diện tích 68,64 m2 trị giá 20.592.000đồng;  Bờ rào xây gạch xỉ diện tích 240 m2 trị giá 12.000.000đồng và 967,4m2 đất tại khu 2 Thị trấn S, huyện C. Bà không yêu cầu Tòa án thẩm định, định giá tài sản nào khác.

Bị đơn anh H trình bày: Bố anh là ông Hoàng Minh X, mẹ anh là Hoàng Thị H. Bố mẹ anh có 04 người con chung gồm: Hoàng Hồng H1, Hoàng Quốc H2, Hoàng Quốc H3 và anh. Bố mẹ anh không có con riêng, con nuôi. Anh xác nhận bố mẹ anh có khối tài sản chung đã được Hội đồng định giá ngày 21/8/2017 như bà H trình bày là đúng. Bố anh chết tháng 01/2016, không có di chúc để lại. Quan điểm của anh: toàn bộ tài sản chung của bố mẹ phải để lại làm nơi thờ cúng, không được phân chia. Tại phiên tòa anh thay đổi quan điểm: xác định một nửa tài sản chung đó là của bà H. Nửa tài sản còn lại là di sản của ông X phải chia đều cho 05 phần (04 người con và bà H). Anh xin được hưởng kỷ phần của ông X bằng quyền sử dụng đất. Nếu bà H lấy phần đất có ngôi nhà thì phải trả chênh lệch cho anh bằng quyền sử dụng đất.  Còn về văn bản bà H cung cấp và cho rằng đó là di chúc của ông X bố anh để lại, quan điểm của anh đây không phải là chữ viết và chữ ký của bố anh nên không thể coi là di chúc hợp pháp. Nay Tòa án công khai kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ, anh không nhất trí. Nhưng anh cũng không có căn cứ gì chứng minh chữ viết Hoàng Minh X và chữ ký X  không phải chữ ký, chữ viết của bố anh Hoàng Minh X.

Người có quyền lợi liên quan trình bày:

- Anh Hoàng Quốc H2:  Bố anh là Hoàng Minh X  và mẹ anh là Hoàng Thị H có 04 người con như bà H đã trình bày. Bố mẹ anh có khối tài sản chung là quyền sử dụng thửa đất số 76, tờ bản đồ số 18 , diện tích 967,4m2 đất tại khu 2 Thị trấn S, huyện C và 01 ngôi nhà, bếp và công trình chăn nuôi. Toàn bộ tài sản đã được thẩm định và định giá tài sản. Anh nhất trí không ý kiến gì. Bà H xuất trình bản di chúc chung của vợ chồng do ông Hoàng Minh X viết, anh không nhất trí và không chấp nhận đó là di chúc hợp pháp của ông X, bà H. Nay ông X đã chết, yêu cầu được chia di sản thừa kế và anh xin được hưởng một phần di sản của ông X.

- Anh Hoàng Quốc H3: Anh xác định bố mẹ anh là ông Hoàng Minh X và bà Hoàng Thị H có 04 người con đẻ như anh H trình bày là đúng. Ông bà không có con riêng, con nuôi. Anh không công nhận bản di chúc bà H đã xuất trình là hợp pháp. Công nhận bố mẹ anh có khối tài sản như biên bản thẩm định và định giá ngày 21/8/2017. Anh không đồng ý chia tài sản của bố mẹ. Toàn bộ tài sản trên phải được để lại làm nơi thờ cúng.

- Anh Hoàng Hồng H1: Anh công nhận bố mẹ anh là ông X, bà H có 04 người con đẻ như bà H trình bày là đúng và công nhận ông bà có khối tài sản chung như biên bản thẩm định và định giá ngày 21/8/2017. Trước khi chết bố anh có để lại một bản di chúc chung của vợ chồng. Anh công nhận bản di chúc đó là hợp pháp. Anh đề nghị Tòa án giải quyết theo yêu cầu của  mẹ anh. Anh không có yêu cầu gì về khối tài sản trên.

Tại phiên tòa, bà H yêu cầu HĐXX công nhận bản di chúc do ông Hoàng Minh X viết ngày 10/8/2015 là hợp pháp. Bà không yêu cầu chia tài sản. Anh H và anh H giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Hoạt động tố tụng dân sự của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử đối với vụ án thụ lý số 12/2017/TLST-DS ngày 08/6/2016, về việc “ T/c thừa kế theo di chúc” là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 627, 630 Bộ luật dân sự 2015; khoản 1,5 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 điều 12, điểm a khoản 7 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và Điều 26 Luật thi hành án dân sự. Đề nghị xử: Công nhận di chúc của ông Hoàng Minh X, bà Hoàng Thị H viết ngày 10/8/2015 là hợp pháp. Về án phí: Bà H không phải chịu án phí DSST. Anh H, anh H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên toà trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ và toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quan hệ pháp luật: Ông Hoàng Minh X và bà Hoàng Thị H là vợ chồng . Trong thời kỳ hôn nhân ông bà tạo dựng được khối tài sản chung như biên bản thẩm định ngày 21/8/2017. Tháng 01/2016 ông X chết và có để lại một bản di chúc chung của vợ chồng viết ngày 10/8/2015. Anh H, anh H2, anh H3 là con đẻ của ông X, bà H không công nhận di chúc trên là hợp pháp. Bà H khởi kiện và yêu cầu Tòa án công nhận di chúc chung của vợ chồng bà là hợp pháp. Yêu cầu khởi kiện của bà H phù hợp quy định tại chương XXII của Bộ luật dân sự năm 2015 về thừa kế theo di chúc và thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện C, tỉnh Phú thọ.

[2] Ông Hoàng Minh X (chết tháng 01/2016) và bà Hoàng Thị H có 04 người con đẻ là anh Hoàng Tuyết H, Hoàng Hồng H1, Hoàng Quốc H2 và Hoàng Quốc H3. Ông bà không có con riêng, con nuôi. Ngày 10/8/2015 ông X viết  di chúc chung của vợ chồng, bà H cùng ký với nội dung:

“ Nay hai chúng tôi nhất trí giao lại căn nhà 4 gian, sân gạch, giếng nước ăn và toàn bộ tài trong nhà từ cái nhỏ nhất, đến cái to nhất cho con trai Hoàng Hồng H1 có số chứng minh nhân dân là số vì Hoàng Hồng H1 là người có công nuôi dưỡng cha mẹ trong khi ốm yếu. Khi cha mẹ qua đời H1 có trách nhiệm chôn cất và thờ cúng.

Số đất thổ cư và vườn đổi H1 được hưởng thụ, còn những người con khác đã phân chia. Nay không có gì để cho. Vì bất hiếu với cha mẹ ....

Khi tôi gia đi trước vợ thì bản di chúc này sẽ giao lại cho vợ là Hoàng Thị H. Sau khi bà Hoàng Thị H mất sẽ giao cho con trai Hoàng Hồng H1 sẽ quản lý số đất của gia đình từ trong nhà đến ngoài đồng là H1 phải chịu trách nhiệm. Vy kính mong UBND Thị trấn xác nhận”.

Bản di chúc không có người làm chứng và không có xác nhận của UBND Thị trấn S, huyện C. Tuy nhiên bản di chúc này không được các anh Hoàng Tuyết H, Hoàng Quốc H2 và Hoàng Quốc H3 công nhận là di chúc hợp pháp. Điều 663  quy định: Di chúc chung của vợ chồng. Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung.

Ông X, bà H làm di chúc chung của vợ chồng thể hiện việc định đoạt tài sản chung phù hợp với điều luật nêu trên.

Xét tính hợp pháp của bản di chúc không có chứng thực:

Tại điều 630 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định di chúc hợp pháp:

1.  Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

....

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

Trong quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự thừa nhận ông X có tinh thần tỉnh táo, minh mẫn, không phải nằm điều trị cho đến thời điểm trước khi chết. Sự thừa nhận trên chứng tỏ vào thời điểm ông X viết bản di chúc còn khỏe mạnh, minh mẫn, không có sự ép buộc nào. Nội dung trong bản di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội phù hợp với quy định tại điều 630 Bộ luật dân sự năm 2015. Mặt khác, tại Kết luận giám định số 1700/KLGĐ ngày 28/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú thọ kết luận: Chữ ký dạng chữ viết “ X” và các chữ Hoàng Minh X trên “ Bản di chúc” ( tài liệu cần giám định ký hiệu A) so với chữ ký dạng chữ viết “ X” và các chữ Hoàng Minh X dưới mục “ Người xin; Đại diện gia đình; Người viết đơn ký tên; Người khai; Người làm đơn” trên “ Đơn xin trợ cấp; Biên bản xác nhận xây dựng nhà ở hoàn thành theo giai đoạn; Đơn đề nghị giải quyết chất độc da Cam; Bản khai cá nhân đề nghị hưởng chế độ trợ cấp một lần; Đơn xin vào Hội Cựu chiến Binh kết hợp sơ yếu lý lịch” ( tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1.M2.M3.M4.M5) là do cùng một người ký và viết ra.

Quá trình giải quyết vụ án, anh H, anh H2 và anh H3 không đưa ra được bất cứ một chứng cứ nào chứng minh cho việc bản di chúc ngày 10/8/2015 không phải do ông Hoàng Minh X viết. Từ những căn cứ nêu trên  HĐXX chấp nhận yêu cầu của bà Hoàng thị H.

[3] Tài sản chung của ông Hoàng Minh X và bà Hoàng thị H gồm có: 01 ngôi nhà chính xây gạch chỉ, mái tôn diện tích 70,62 m2 trị giá 155.364.000đồng; 01 bếp lợp ploximang diện tích 15m2 trị giá 12.000.000đồng; sân lát gạch, mái tôn diện tích 62,13 m2  trị giá: 18.017.700đồng; Chuồng trại chăn nuôi diện tích 68,64 m2 trị giá 20.592.000đồng; Bờ rào xây gạch xỉ diện tích 240 m2 trị giá 12.000.000đồng và quyền sử dụng diện tích 967,4m2 đất tại thửa số 76, tờ bản đồ số 18 ở khu 2 Thị trấn S, huyện C. Bà H và các anh H, H1, H2 và H3 công nhận có những tài sản trên và đã được thẩm định, định giá ngày 21/8/2017. Các đương sự không có ý kiến nào khác.

Anh H, anh H2 yêu cầu được chia di sản của ông X và xin được hưởng kỷ phần. Xét yêu cầu của anh H, anh H2 là chính đáng. Tuy nhiên tài sản chung của ông X, bà H đã được định đoạt bằng di chúc chung của vợ chồng nên yêu cầu của các anh không được xem xét.

[4] Thu thập chứng cứ: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án và các đương sự đã thu thập được những chứng cứ sau: Bản gốc di chúc viết ngày 10/8/2015, kết luận giám định số 1700/KLGĐ ngày 28/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú thọ, những văn bản do ông Hoàng Minh X viết để làm mẫu so sánh.

[5] Án phí: Theo quy định tại điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 thì bà Hoàng Thị H thuộc trường hợp người cao tuổi nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Anh Hoàng Tuyết H, anh Hoàng Quốc H2 mỗi người phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 627, 630 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1,5 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 7 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

1.Xử Công nhận di chúc chung của ông Hoàng Minh X và bà Hoàng Thị H viết ngày 10/8/2015 là hợp pháp.

Không chấp nhận yêu cầu của anh Hoàng Tuyết H và anh Hoàng Quốc H2 đòi chia di sản của ông Hoàng Minh X.

2.Bà Hoàng Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Hoàng Thị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2017/0002551 ngày 28/6/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện C. Anh Hoàng Tuyết H, anh Hoàng Quốc H2 mỗi người phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND nơi cư trú.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trân trọng.

 

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội.

     Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hình uy tín như:  Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ Ngân hàng Navibank, Huyền Như, Viettinbank, các vụi Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái.… và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Trân trọng cảm ơn.

ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)
Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)
5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)
68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 028-38779958; Fax: 08-38779958
Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006
Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Trân trọng.
 
Ảnh: Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình

Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và thực tiễn thực hiện

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Thừa Kế

Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và thực tiễn thực hiện

Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và thực tiễn thực hiện

Pháp luật dân sự quy định: Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện. Việc xác định đúng thời hiệu khởi kiện có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động giải quyết tranh chấp của Tòa án. Nhiều vụ việc trên thực tiễn là những bài học cho các đương sự vì không nhận thức đầy đủ về ý nghĩa của thời hiệu khởi kiện. Tuy nhiên, quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự còn nhiều điểm bất cập, tạo nên nhiều cách hiểu khác nhau, gây khó khăn chi thực tiễn áp dụng, ảnh hưởng không ít đến quyền lợi của đương sự. Thông qua bài viết này, tác giả trao đổi một số vấn đề về các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện, thực tiễn của việc áp dụng thời hiệu khởi kiện tại cơ quan Tòa án, đồng thời nêu ra một vài kiến nghị hạn chế những bất cập trên.
1. Quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện  
Khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, tổ chức nộp đơn yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của cơ quan, tổ chức nhà nước hoặc của người khác. Khởi kiện vụ án dân sự là cách thức để chủ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm. Trên cơ sở của yêu cầu khởi kiện, Tòa án quyết định buộc người có hành vi vi phạm phải chấm dứt hành vi đó góp phần vào việc giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, bảo vệ trật tự an toàn xã hội, củng cố, xây dựng tình đoàn kết trong nhân dân.
Việc khởi kiện vụ án dân sự được quy định tại Điều 168 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”. Tuy nhiên, việc khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án chỉ được thực hiện trong một thời hạn do Luật quy định, hết thời hạn đó thì người có quyền khởi kiện bị mất quyền khởi kiện. Thời hạn được quyền khởi kiện vụ án dân sự gọi là thời hiệu khởi kiện. Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Thời hiệu khởi kiện vụ án được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự. Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thức thì mất quyền khởi kiện.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự không áp dụng trong những trường hợp sau đây: (i) Yêu cầu hoàn trả tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước; (ii) Yêu cầu bảo vệ quyền nhân dân bị xâm phạm trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; (iii) Các trường hợp khác do pháp luật quy định. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại trong trường hợp sau đây: (i) Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; (ii) Bên nghĩa vụ thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; (iii) Các bên đã tự hòa giải với nhau.
Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân các chủ thể khác bị xâm phạm. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm. Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm thừa kế. Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu khởi kiện đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà pháp luật nước đó áp dụng để điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài tương ứng.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện vụ án đối với một số tranh chấp được quy định như sau: Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng (Điều 129); thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại (Điều 588)… là ba năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Thời hiệu để người yêu cầu chia di sản thừa kế (Điều 623) là ba mươi năm đối với bất động sản, mười năm đối với động sản kể từ thời điểm mở thừa kế…. Thời điểm để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm kể từ thời điểm mở thừa kế.
Theo Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015, không áp dụng thời hiệu khởi kiện trong các trường hợp sau đây: (i) Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn liền với tài sản; (ii) Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có quy định khác; (iii) Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của luật đất đai; (iv) Các trường hợp khác do luật quy định.
Có thể nhận thấy, thời hiệu thực hiện quyền khởi kiện quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là nhiều hơn so với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005. Các quy định về không áp dụng thời hiệu khởi kiện trong Bộ luật Dân sự năm 2015 được mở rộng hơn, bổ sung thêm một số tranh chấp không áp dụng thời hiệu khởi kiện là các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, về đòi lại tài sản do người khác quản lý, tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Bên cạnh các quy định của Bộ luật Dân sự, các văn bản pháp luật khác cũng quy định về thời hiệu khởi kiện như: Luật Thương mại năm 2005 quy định thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại là hai năm, kể từ thời điểm quyền và lợi  ích hợp pháp bị xâm phạm… (Điều 3);  Bộ luật Hàng hải Việt Nam quy định thời hiệu khởi kiện về hư hỏng mất mát hàng hóa vận chuyển là một năm, kể từ ngày trả hàng hoặc lẽ ra phải trả hàng cho người nhận hàng (Điều 97); thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường tổn thất do hành khách chết, bị thương hoặc tổn hại khác về sức khỏe và mất mát, hư hỏng hành lý là hai năm… (Điều 118); thời hiệu khởi kiện đối với vụ việc liên quan đến hợp đồng thuê tàu là hai năm kể từ ngày chấm dứt hợp đồng (Điều 142); thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp đồng đại lý tàu biển (Điều 164); hợp đồng môi giới hàng hải (Điều 168), hợp đồng lai dắt tàu biển (Điều 183), hợp đồng cứu hộ hàng hải (Điều 195), hợp đồng bảo hiểm hàng hải (Điều 257)… cũng là hai năm kể từ ngày phát sinh tranh chấp.
2. Thực tiễn thực hiện thời hiệu khởi kiện
Quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án là quyền công dân, quyền con người được Hiến pháp quy định và Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên trong thực tế đời sống xã hội, không phải người dân nào cũng biết quyền khởi kiện hợp pháp của mình. Khởi kiện hợp pháp là người khởi kiện có quyền khởi kiện, có đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự, thực hiện việc khởi kiện trong thời hiệu khởi kiện do pháp luật quy định và vụ việc khởi kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhận được đơn khởi kiện.
Tìm hiểu thực tiễn tại một số Tòa án thì Tòa án thường trả lại đơn khởi kiện cho người gửi đơn khởi kiện trong các trường hợp như: (i) Chủ thể khởi kiện không biết quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện nên sau khi gửi đơn khởi kiện đến Tòa án thì Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện với lý do là “Thời hiệu khởi kiện đã hết”; (ii) Bộ phận tiếp nhận đơn khởi kiện của Tòa án không nắm vững quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện, nên đã thụ lý đơn khởi kiện sau ngày kết thúc thời hiệu khởi kiện.
Để khắc phục những hạn chế trong việc thực hiện thời hiệu khởi kiện. Tác giả bài viết đề nghị một số giải pháp quyết nhằm hạn chế đến mức thấp nhất việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Cụ thể:
Một là, cần tăng cường và thường xuyên tập huấn, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thời hiệu khởi kiện cho mọi đối tượng. Hiện nay, số lượng vụ án dân sự mà Tòa án các cấp trong cả nước phải giải quyết là rất nhiều, tuy nhiên trong số đó lại có thời hiệu khởi kiện khác nhau: Có loại thời hiệu khởi kiện là hai năm (tranh chấp hợp đồng trong Bộ luật Hàng hải Việt Nam), có loại khởi kiện là ba năm (tranh chấp hợp đồng bồi thường thiệt hại quy định trong Bộ luật Dân sự), có thời hiệu khởi kiện là mười năm và thời hiệu khởi kiện là ba mươi năm (về thừa kế), có loại khởi kiện là một năm (về giải quyết mất mát, hư hỏng hàng hóa quy định trong Bộ luật Hàng hải…).
Theo báo cáo tổng kết công tác hàng năm của Tòa án nhân dân tối cao số vụ án dân sự mà các cấp Tòa án trong cả nước giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là: Năm 2013 giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là 259.636 vụ. Năm 2014 giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là 279.300 vụ. Năm 2015 giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là 294.555 vụ. Tuy nhiên, công tác tuyên truyền pháp luật về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự gần như không có, mà chỉ tập trung giới thiệu, tuyên truyền những quy định của pháp luật, bởi vậy, cần tuyên truyền về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự để mọi tầng lớp nhân dân cũng như bản thân cán bộ Tòa án được biết. Có như vậy mới hạn chế đến mức thấp nhất việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự với lý do thời hiệu khởi kiện đã hết.
Hai là, Tòa án nhân dân tối cao cần có văn bản hướng dẫn việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thời hiệu khởi kiện đối với người dân bằng hình thức có Bản tổng hợp các thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự để tại nơi tiếp nhận đơn của các Tòa án trong cả nước để nhân dân biết, để công chức Tòa án biết. Bản tổng hợp thời hiệu khởi kiện bao gồm các nội dung như:
(i) Thời hiệu khởi kiện một năm…; loại vụ việc yêu cầu Tòa án giải quyết…; tên văn bản luật đã quy định về thời hiệu…;
(ii) Thời hiệu khởi kiện hai năm…; loại vụ việc yêu cầu Tòa án giải quyết…; tên văn bản luật đã quy định về thời hiệu…;
(iii) Thời hiệu khởi kiện ba năm…; loại vụ việc yêu cầu Tòa án giải quyết…; tên văn bản luật đã quy định về thời hiệu…;
(iv) Thời hiệu khởi kiện mười năm…; loại vụ việc yêu cầu Tòa án giải quyết…; tên văn bản luật đã quy định về thời hiệu…;
(v) Thời hiệu khởi kiện ba mươi năm…; loại vụ việc yêu cầu Tòa án giải quyết…; tên văn bản luật đã quy định về thời hiệu...
ThS. Bùi Thị Mai Liên
Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng
Nguồn:
Tạp chí dân chủ và pháp luật

Luật Sư Tại TPHCM Tư Vấn Về Quyền Thừa Kế

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Thừa Kế

Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản.

2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế.

Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Thừa kế thế vị

Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

Quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi và cha đẻ, mẹ đẻ

Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 676 và Điều 677 của Bộ luật Dân sự 2005.

Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế

Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 676 và Điều 677 của Bộ luật Dân sự 2005.

Việc thừa kế trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung, đang xin ly hôn, đã kết hôn với người khác

1. Trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhâncòn tồn tại mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.

2. Trong trường hợp vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được Toà án cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.

3. Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản.

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Luật sư Gia Đình đang mở rộng và luôn nỗ lực hoàn thiện nhiều loại hình dịch vụ đa dạng trong khu vực, trong nước và trên thế giới nhằm mang lại cho khách hàng của mình những dịch vụ tư vấn hoàn hảo nhất.

     Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình được nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm kinh nghiệm là đối tác tư vấn pháp luật trên Đài tiếng nói Bình Dương, Đài truyền hình Bình Dương, Đài Truyền hình HTV, Đài truyền hình Vĩnh Long, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài phát thanh Kiên Giang, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ Ngân hàng Navibank, Huyền Như, Viettinbank, Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Trân trọng cảm ơn.

 

ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)

Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)
5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)
68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 08-38779958; Fax: 08-38779958
Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006
Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Mẹ Mất Cha Có Được Bán Nhà Đất Không?

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Thừa Kế

Căn cứ quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 33, Luật hôn nhân gia đình năm 2014 như sau: "Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng." Trong trường hợp của anh, vì mành ruộng và đất rẫy của bố, mẹ anh hình thành trong quá trình hôn nhân nên đây là tài sản chung của bố , mẹ anh. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng. Nhưng mẹ anh đã mất, mà không để lại di chúc nên phần tài sản của mẹ anh đó sẽ được chia thừa kế.

Theo đó, di sản sẽ được chia theo pháp luật theo quy định tại Điều 674 Bộ luật dân sự 2005: "Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định." Khi chia thừa kế theo pháp luật, thứ tự phân chia sẽ được phân chia theo hàng thừa kế theo quy định tại Điều 676 Bộ luật dân sự 2005 như sau:

"1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Theo đó, tài sản chung của bố mẹ anh hình thành trong quá trình hôn nhân nên trước tiên tài sản sẽ được chia cho bố anh một nửa. Nửa phần di sản của mẹ anh sẽ được chia 4 phần cho bố anh, 3 người con.

Căn cứ quy định tại Điều 128, Bộ luật dân sự 2005:

"Điều 128. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội

Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng."

Như vậy, hành vi tự ý bán đất ruộng khi chưa có sự đồng ý của những người thừa kế là trái với quy định của pháp luật, nên giao dịch dân sự này là giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội. Nên anh có thể yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và thực hiện thủ tục khởi kiện đòi chia di sản thừa kế tại tòa án nhân dân cấp huyện.

Nếu bố anh có hành vi trốn tránh trách nhiệm, bỏ trốn thì có thể tố cáo tới cơ quan công an để xử lý hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 139, Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009.

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Luật sư Gia Đình đang mở rộng và luôn nỗ lực hoàn thiện nhiều loại hình dịch vụ đa dạng trong khu vực, trong nước và trên thế giới nhằm mang lại cho khách hàng của mình những dịch vụ tư vấn hoàn hảo nhất.

     Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình được nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm kinh nghiệm là đối tác tư vấn pháp luật trên Đài tiếng nói Bình Dương, Đài truyền hình Bình Dương, Đài Truyền hình HTV, Đài truyền hình Vĩnh Long, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài phát thanh Kiên Giang, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ Ngân hàng Navibank, Huyền Như, Viettinbank, Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích...luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Trân trọng cảm ơn.

ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)
Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)
5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)
68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 08-38779958; Fax: 08-38779958
Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006

Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp thừa kế

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Thừa Kế

Luật sư tư vấn giải quyết các tranh chấp về thừa kế theo di chúc

+   Tranh chấp liên quan đế  hình thức và nội dung của di chúc đã lập;
+   Tranh chấp về việc chỉ định người thừa kế, người bị truất quyền hưởng di sản;
+   Tranh chấp cách phân định phần di sản cho từng người thừa kế

+   Tranh chấp về cách phân chia di sản để tặng cho, thờ cúng;

+   Tranh chấp về giao nghĩa vụ cho những người thừa kế;
+   Các tranh chấp liên quan đến vấn đề lập di chúc chung của vợ chồng;
+   Tranh chấp liên quan hiệu lực pháp luật của di chúc.
Các tranh chấp về thừa kế theo pháp luật
 
+   Tranh chấp đối với các trường hợp thừa kế theo pháp luật;
 
+   Tranh chấp liên quan đến xác định người thừa kế theo pháp luật;
 
+   Tranh chấp liên quan đến thừa kế thế vị;
 
+   Tranh chấp về quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi và cha đẻ, mẹ đẻ, Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế;
 
+   Tranh chấp về việc thừa kế trong trường hợp vợ, chồng chia tài sản chung, đang xin ly hôn, đã kết hôn với người khác.

Quy trình thực hiện của luật sư tham gia tố tụng trong vụ việc tranh chấp liên quan đến Thừa kế được tiến hành theo các bước như sau:

Bước 1: Tiếp nhận thông tin và hồ sơ vụ việc và các chứng cứ, giấy tờ liên quan đến vụ việc tranh chấp về thừa kế thực tế khi đương sự yêu cầu.

Bước 2: Xác định về điều kiện, thẩm quyền giải quyết, thời gian thực hiện và phân công luật sư tham gia tố tụng giải quyết tranh chấp về thừa kế.

Bước 3: Thu thập chứng cứ, tài liệu và các điều kiện chứng minh khác theo quy định pháp luật để thực hiện nhiệm vụ nhiệm vụ tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người bị hại, người liên quan và đương sự khác trong vụ án.

Bước 4: Hoàn thiện hồ sơ tham gia tố tụng gửi các cơ quan tiến hành tố tụng và triển khai nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh chấp liên quan đến thừa kế.

Bước 5: Luật sư tham gia tố tụng tại cơ quan tiến hành tố tụng theo nhiệm vụ đã phân công nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người bị hại, người liên quan và đương sự khác trong vụ án về thừa kế.

Ngoài hình thức tư vấn giải quyết trực tiếp tại văn phòng và qua Email tư vấn, Để giải quyết những vướng mắc về tranh chấp thừa kế và rất nhiều thắc mắc liên quan đến di sản, tài sản thừa kế khác một cách nhanh chóng và kịp thời - Bạn có thể kết nối trực tiếp với Tổng đài tư vấn luậtvà giải quyết tranh chấp thừa kế trực tuyếnđể được tư vấn nhanh chóng, cụ thể:

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Luật sư Gia Đình đang mở rộng và luôn nỗ lực hoàn thiện nhiều loại hình dịch vụ đa dạng trong khu vực, trong nước và trên thế giới nhằm mang lại cho khách hàng của mình những dịch vụ tư vấn hoàn hảo nhất.

     Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình được nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm kinh nghiệm là đối tác tư vấn pháp luật trên Đài tiếng nói Bình Dương, Đài truyền hình Bình Dương, Đài Truyền hình HTV, Đài truyền hình Vĩnh Long, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài phát thanh Kiên Giang, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ Ngân hàng Navibank, Huyền Như, Viettinbank, Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích...luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Trân trọng cảm ơn.

ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)
Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)
5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)
68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 08-38779958; Fax: 08-38779958
Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006

Giới Thiệu Luật Sư Trần Minh Hùng

link s75   Luật sư Trần Minh Hùng là một trong những luật sư có nhiều kinh nghiệm về kiến thức, thực tiễn và đã từng thắng nhiều vụ kiện. Luật sư Minh Hùng luôn coi trọng chữ Tâm của nghề luật sư và trách nhiệm đối với xã hội nên đã được nhiều hãng báo chí, truyền thông, phỏng vấn về nhiều lĩnh vực quan trọng liên quan đến đời sống xã hội và được mời làm ban giám khảo các cuộc thi liên quan đến pháp luật... 
Hotline:0972238006