Luật Sư Thừa Kế

Quy Định Về Quyền Thừa Kế

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Thừa Kế

I. Luật thừa kế tài sản trong gia đình Khi một người trong gia đình chết những người còn lại có quyền được hưởng thừa kế tài sản của người chết để lại, nếu người chết không để lại di chúc định đoạt cụ thể người hưởng di sản là ai và phần di sản được hưởng người được quyền thừa kế sẽ được xác định theo Điều 676 Bộ Luật Dân sự 2005 như sau:

 1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại. 
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. 3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Trong trường hợp con của người để lại di sản cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống. Đây là trường hợp thừa kế thế vị được quy định tại Điều 677 Bộ Luật Dân sự 2005: “Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống . Đối với trường hợp người chết để lại di chúc, nhưng trong di chúc không cho những người trong gia đình (như con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên mà không có khả năng lao động) được hưởng thì theo quy định tại Điều 669 Bộ Luật Dân sự họ vẫn được hưởng 2/3 một suất của một người thừa kế theo pháp luật. Điều này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của những người có mối quan hệ phụ thuộc hoặc người mà người để lại di sản có nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Điều 669 được quy định cụ thể như sau : "Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Luật sư Gia Đình đang mở rộng và luôn nỗ lực hoàn thiện nhiều loại hình dịch vụ đa dạng trong khu vực, trong nước và trên thế giới nhằm mang lại cho khách hàng của mình những dịch vụ tư vấn hoàn hảo nhất.

     Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình được nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực hỗ trợ luật sư là đối tác tư vấn pháp luật trên Đài tiếng nói Bình Dương, Đài truyền hình Bình Dương, Đài Đài Truyền hình HTV, Đài truyền hình Vĩnh Long, Đài VOV Giao Thông, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài phát thanh Kiên Giang, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Trân trọng cảm ơn.

ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)
Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)
5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)
68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 08-38779958; Fax: 08-38779958
Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006

Giải quyết tranh chấp thừa kế di sản là TS gắn liền trên đất và QSDĐ đã hết thời hiệu khởi kiện

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Thừa Kế

Giải quyết tranh chấp thừa kế di sản là TS gắn liền trên đất và QSDĐ đã hết thời hiệu khởi kiện

25/04/2015

 
 

Cụ ông Trần Đình L, sinh năm 1920 và cụ bà Tăng Thị K, sinh năm 1922, có với nhau 03 người con là ông Trần Đình A, ông Trần Đình Q và bà Trần Thị Hồng S. Cụ L chết tháng 4/1982, cụ K chết tháng 12/2004 đều không để lại di chúc, sau khi hai cụ qua đời, ông A và vợ là bà H tiếp tục quản lý và sử dụng khối di sản của hai cụ để lại là ngôi nhà cấp 4 xây tường gạch, gỗ lim có diện tích 49 m2 được xây cất trên thửa đất có diện tích 394 m2, thể hiện trên bản đồ địa chính của địa phương thửa đất của hai cụ để lại nằm tại vị trí số 2, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại số 28, khu phố 4, đường N.T.T., phường M, thành phố B (chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở)

Ngày 04/8/2006, ông Trần Đình Q khởi kiện ông A yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ L và cụ K để lại; ngày 15/8/2006 ông A và bà H tự ý phá đi căn nhà cấp 4 nói trên. TAND thành phố B khi thụ lý đơn khởi kiện có căn cứ xác định: Đây là loại tranh chấp về quyền thừa kế di sản là tài sản gắn liền trên đất và quyền sử dụng đất do người chết để lại không có di chúc, các đương sự không tranh chấp về hàng thừa kế nhưng không có một trong các loại giấy tờ được hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 và tiểu mục 1.2, mục 1, phần II của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (viết tắt Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP), hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình. Sau khi cụ L chết, cụ K tiếp tục quản lý, sử dụng ngôi nhà cấp 4 xây tường gạch, gỗ lim có diện tích 49 m2 được xây cất trên thửa đất có diện tích 394 m2 mà không tu bổ gì thêm. Quá trình thu thập tài liệu hồ sơ vụ án, UBND phường M, thành phố B có văn bản xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp và chưa kịp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ L và cụ K. Xoay quanh việc giải quyết nội dung tranh chấp này, có các quan điểm sau:

Quan điểm thứ nhất, ngôi nhà cấp 4 xây tường gạch, gỗ lim có diện tích 49 m2 được xây cất trên thửa đất có diện tích 394 m2 không phải là di sản vì không thuộc trường hợp theo hướng dẫn tại tiểu mục 1.1, tiểu mục 1.2 và tiểu mục 1.3, mục 1, phần II của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP, mà theo đó, tiểu mục 1.1 có quy định: “Đối với đất do người chết để lại (không phân biệt có tài sản hay không có tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất) mà người đó đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 thì quyền sử dụng đất đó là di sản.”; tiểu mục 1.2 có hướng dẫn: “Đối với trường hợp đất do người chết để lại mà người đó có một trong các loại giấy quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003, thì kể từ ngày 01/7/2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sản, không phụ thuộc vào thời điểm mở thừa kế.; tiểu mục 1.3 có ghi rõ: “Trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó không có một trong các loại giấy tờ được hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 và tiểu mục 1.2 mục 1 này nhưng có di sản là nhà ở, vật kiến trúc khác (như: nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà để ô tô, nhà thờ, tường xây làm hàng rào gắn với nhà ở, các công trình xây dựng trên đất được giao để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh như nhà xưởng, kho tàng, hệ thống tưới, tiêu nước, chuồng trại chăn nuôi hay vật kiến trúc khác hoặc trên đất có các tài sản khác như cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây ăn quả, cây công nghiệp hay các cây lâu năm khác) gắn liền với quyền sử dụng đất đó …”. Bởi do hiện tại ngôi nhà cấp 4 là tài sản gắn liền trên đất đã bị phá bỏ, không tồn tại trên thực tế, nên trường hợp này phải vận dụng quy định tại tiểu mục 1.4, mục 1, phần II, Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP để giải quyết, đó là: “Trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó không có một trong các loại giấy tờ quy định tại tiểu mục 1.1, tiểu mục 1.2 mục 1 này và cũng không có di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất được hướng dẫn tại tiểu mục 1.3 mục 1 này, nếu có tranh chấp thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Uỷ ban nhân dân theo quy định của pháp luật về đất đai.”. Do vậy, Tòa án căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011): Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật này mà Tòa án đã thụ lý;”để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án do không thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND. Lập luận của quan điểm này nhấn mạnh, khi thụ lý vụ án di sản là ngôi nhà cấp 4 vẫn tồn tại, trong quá trình Tòa án xem xét để giải quyết ngôi nhà đó mới bị phá bỏ, nên phải xác định trường hợp này là không có di sản tồn tại trên đất và căn cứ vào hướng dẫn tại tiểu mục 1.4, mục 1, phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP, Tòa án phải đình chỉ giải quyết vụ án do thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND theo quy định của pháp luật về đất đai.

Quan điểm thứ hai, thời hiệu khởi kiện đối với phần di sản thừa kế của cụ L vẫn còn, bởi căn cứ vào hướng dẫn tại tiểu mục 1.2, mục 1, phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP: “Đối với trường hợp đất do người chết để lại mà người đó có một trong các loại giấy quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003, thì kể từ ngày 01/7/2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sản, không phụ thuộc vào thời điểm mở thừa kế.”. Theo quan điểm này, thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất đối với trường hợp người để lại thừa kế chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai (LĐĐ) năm 1987, LĐĐ năm 1993, LĐĐ năm 2003 nhưng có một trong các giấy tờ quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50[1] LĐĐ năm 2003 thì thời hiệu khởi kiện được bắt đầu lại từ ngày 01/7/2004, do vậy, thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế của các con cụ L vẫn còn và thời hiệu này phải đến hết ngày 01/7/2014.

Quan điểm thứ ba, trường hợp này không thuộc tiểu mục 1.4, mục 1, phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP, vì di sản do hai cụ để lại đều được các đồng thừa kế thừa nhận và tồn tại cho đến ngày 15/8/2006 mới bị phá bỏ. Theo tiểu mục 3.3, mục 3 phần I Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-TCĐC ngày 03/01/2002 của Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Tổng cục Địa chính, hướng dẫn về thẩm quyền của Tòa án nhân dân về giải quyết các tranh chấp liên quan đền quyền sử dụng đất, có quy định: Nếu tranh chấp về tài sản là nhà ở, vật kiến trúc khác (như nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà để ô tô, nhà thờ, tường xây làm hàng rào gắn với nhà ở, các công trình xây dựng trên đất được giao để sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh như nhà xưởng, kho tàng, hệ thống tưới tiêu nước, chuồng trại chăn nuôi hay vật kiến trúc khác hoặc trên đất có các tài sản khác như cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây ăn quả, cây công nghiệp hay các cây lâu năm khác) gắn liền với việc sử dụng đất đó, thì Toà án thụ lý giải quyết.”nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND thành phố B. Hơn nữa, di sản là ngôi nhà ở cấp 4 được xây dựng trên diện tích đất như trên đã đề cập vẫn chưa được những người thuộc hàng thừa kế của hai cụ định đoạt, để khắc phục việc vợ chồng ông A tự phá bỏ ngôi nhà này, Tòa án cần tạo điều kiện cho các đương sự khai báo, xác minh, thẩm định và đề nghị cơ quan chuyên môn có thẩm quyền xác định giá trị tài sản đã bị hủy hoại, bị hư hỏng theo tinh thần Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 của Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Công an – Bộ Tư pháp, hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của BLHS năm 1999 làm căn cứ để giải quyết.

Quan điểm thứ tư, cụ L chết 4/1982, cụ K chết 12/2004, cả hai đều không để lại di chúc, do vậy, thời hiệu khởi kiện thừa kế đối với phần di sản của cụ L để lại đã hết theo quy định tại Điều 645[2] BLDS năm 2005. Phần di sản ½ của cụ K trong khối tài sản chung của hai cụ được chia thừa kế theo pháp luật cho ba người con. Những người ủng hộ quan điểm này cho rằng, thực chất đây là vụ án chia thừa kế theo pháp luật thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, nên phải tuân theo quy định tại Điều 645 BLDS để giải quyết. Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP, mà theo đó, thời hiệu khởi kiện liên quan đến thừa kế được hướng dẫn tại mục 2 phần I, còn việc xác định quyền sử dụng đất là di sản được hướng dẫn tại mục 1 phần II và nội dung hướng dẫn này có tính hồi tố về thực hiện quyền sử dụng đất chứ không có nghĩa được bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện về thừa kế. Hơn nữa, theo quy định tại Điều 165 BLDS năm 2005, về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự chỉ thuộc ba trường hợp sau:  a) Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;b) Bên có nghĩa vụ thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; c) Các bên đã tự hoà giải với nhau. Nên khi giải quyết vụ kiện này, Tòa án chỉ phân chia cho các đồng thừa kế phần di sản mà cụ K để lại trong khối di sản chung của hai cụ, riêng phần di sản của cụ L trong bản án cần giao quyền quản lý, sử dụng phần di sản đó cho người đang quản lý, sử dụng là vợ chồng ông A, đồng thời xác định quyền sở hữu đối với phần di sản đã hết thời hiệu theo Điều 247 BLDS.

Xoay quanh việc TAND thành phố B tiến hành phân chia phần di sản của cụ K để lại trong khối tài sản chung của hai cụ cho các đồng thừa kế, người viết không có ý kiến gì thêm. Riêng đối với các quan điểm khi bàn về việc giải quyết yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất mà thời hiệu khởi kiện đã hết, qua nghiên cứu người viết thấy rằng, trong trường hợp này có thể xem di sản của cụ L để lại là tài sản chung của các thừa kế, để từ đó tiến hành phân chia theo yêu cầu của các thừa kế trên cơ sở quy định của pháp luật hiện hành đối với tài sản chung, vì mấy lý do sau:

Một là, người viết đồng tình với nhận định của TAND thành phố B khi thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của ông Q, mà theo đó, thực chất đây là vụ án chia thừa kế theo pháp luật nên bản án, quyết định của Tòa án khi giải quyết nội dung đơn phải bảo đảm thỏa mãnyêu cầu chia di sản thừa kế, do cụ L chết 4/1982, cụ K chết 12/2004 nhưng đều không để lại di chúc. Đến ngày 04/8/2006 ông Q có đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế, tuy đã hết thời hạn là 10 năm theo quy định của pháp luật để các  thừa kế yêu cầu chia di sản kể từ thời điểm mở thừa kế (4/1982) khi cụ L mất, nhưng không vì thế mà Tòa án không giải quyết yêu cầu chia di sản theo lập luận như quan điểm thứ nhất và quan điểm thứ tư, nếu dựa vào lý do đã hết thời hiệu khởi kiện để bác yêu cầu chia di sản của cụ L cho các đồng thừa kế, trong khi giữa các đồng thừa kế đều thừa nhận đó là di sản của cha ruột họ để lại nhưng chưa chia là không hợp lý hợp tình để đưa đến công bằng, thật sự gây khó cho người dân, giải quyết không triệt để yêu cầu của đương sự một khi họ cần đến sự can thiệp của pháp luật. Như vậy, vấn đề đặt ra sẽ xử lý như thế nào phần di sản của cụ L để lại, thẩm quyền giải quyết thuộc về cơ quan nào (TAND hay UBND)? Liệu việc tòa án không giải quyết với lý do đã hết thời hiệu khởi kiện, các nguyên đơn có thỏa mãn và không tiếp tục đi kiện nữa không? ...

Hai là, người viết cũng không đồng tình với quan điểm thứ hai cho rằng theo quy định tại tiểu mục 1.2 mục 1 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP, thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế của cụ L để lại vẫn còn và được tính từ ngày01/7/2004. Ngày 01/7/2004 là ngày LĐĐ năm 2003 có hiệu lực thi hành, nhưng vì sao HĐTP TANDTC lại có hướng dẫn như quy định tại tiểu mục 1.2 mục 1 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP? Pháp luật về đất đai ở nước ta luôn có sự thay đổi cho phù hợp với tình hình kinh tế xã hội qua từng giai đoạn lịch sử, khi  LĐĐ năm 1987 đang còn hiệu lực, vào thời điểm đó, tại điểm a phần I nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh thừa kế có quy định: “... đất đai thuộc sở hữu toàn dân, quyền sử dụng đất được giao không phải là quyền sở hữu về tài sản của công dân nên không thể trở thành di sản khi công dân chết...”, nhưng khi Luật Đất đai (LĐĐ) năm 1993 ra đời, thì Nhà nước đã cho phép cá nhân có quyền để lại tài sản là quyền sử dụng đất cho người thừa kế, rồi đến LĐĐ năm 2003 và hiện nay LĐĐ năm 2013 quyền để lại thừa kế là quyền sử dụng đất tiếp tục được pháp luật thừa nhận. Chính vì lẽ đó, để xác định quyền sử dụng đất là di sản, tại các tiểu mục 1.1 và 1.2, mục 1, phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP có hướng dẫn:

“1.1. Đối với đất do người chết để lại (không phân biệt có tài sản hay không có tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất) mà người đó đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 thì quyền sử dụng đất đó là di sản.

1.2. Đối với trường hợp đất do người chết để lại mà người đó có một trong các loại giấy quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003, thì kể từ ngày 01/7/2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sản, không phụ thuộc vào thời điểm mở thừa kế.”. Hơn nữa, tại điểm b, tiều mục 2.2, mục 2, phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP có quy định rõ:“Đối với trường hợp thừa kế mở từ ngày 1/7/1996 thì thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế được thực hiện theo quy định tại Điều 648 của Bộ luật Dân sự”, nên cách hiểu thời hiệu thừa kế về quyền sử dụng đất trong vụ án này như quan điểm thứ hai rõ ràng là không đúng.

Ba là,ngày 04/8/2006, ông Trần Đình Q nộp đơn khởi kiện ông A đến TAND thành phố B để yêu cầu chia di sản thừa kế mà cụ L và cụ K để lại; ngày 15/8/2006 vợ chồng ông A tự ý phá bỏ đi căn nhà là di sản của bố mẹ để lại. Với những tình tiết này cho thấy, ngôi nhà cấp 4 là tài sản gắn liền trên đất, là di sản của cụ L và cụ K để lại được vợ chồng ông A quản lý, sử dụng cho đến khi phát sinh tranh chấp thừa kế (04/8/2006), nghĩa là vẫn tồn tại nguyên trạng như vốn có của nó từ khi cụ K mất cho đến khi vợ chồng ông A quyết định đập bỏ (15/8/2006) hay nói cách khác, tài sản là di sản mà hai cụ để lại như nguyên đơn trình bày là đúng với thực tế và theo đề nghị của nguyên đơn UBND phường M, thành phố B đã có văn bản xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, không có tranh chấp và chưa kịp cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Do vậy trường hợp này theo quan điểm của người viết, TAND thành phố B cần áp dụng hướng dẫn tại điểm a[3], tiểu mục 1.3, mục 1, phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP để giải quyết vụ án, vì:

i) Tuy trước khi qua đời hai cụ K và L để lại quyền sử dụng 394 m2 đất tọa lạc tại địa chỉ số 28, khu phố 4, đường N.T.T., phường M, thành phố B được thể hiện trên bản đồ địa chính vị trí số 2, tờ bản đồ số 14, nhưng lại không có những giấy tờ theo quy định tại tiểu mục 1.1 và tiểu mục 1.2, mục 1, phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP.

ii) Di sản thừa kế mà hai cụ để lại trong đó có ngôi nhà cấp 4 xây tường gạch, gỗ lim có diện tích 49 m2 được xây cất trên thửa đất trên.

iii) Ông Trần Đình Q thuộc hàng thừa kế thứ nhất của hai cụ có đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế.

iv) Theo đề nghị, UBND phường M, thành phố B có văn bản xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, không có tranh chấp và chưa kịp cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Như vậy, TAND thành phố B phải giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền trên đất và quyền sử dụng đất đó là phù hợp. Còn vấn đề để khắc phục việc vợ chồng ông A tự phá bỏ ngôi nhà là đối tượng phải giải quyết, người viết thấy rằng Tòa án cần tạo điều kiện cho các đương sự khai báo, thu thập thông tin, tiến hành xác minh, khuyến khích các bên tìm được tiếng nói chung, nếu cần thiết đề nghị cơ quan chuyên môn có thẩm quyền định giá trị tài sản ngôi nhà cấp 4 đó, theo quy định tại Điều 20[4] về định giá tài sản trong trường hợp tài sản bị thất lạc hoặc không còn, của Nghị định số 26/2005/NĐ-CP ngày 02/3/2005 của Chính phủ về Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự và Thông tư số 55/2006/TT-BTC ngày 22/6/2006 của Bộ Tài chính, hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 26/2005/NĐ-CP ngày 02/3/2005 của Chính phủ về Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự.

Đây là loại tranh chấp di sản thừa kế tài sản gắn liền trên đất và quyền sử dụng đất, tuy tại thời điểm giải quyết vì lý do nào đó mà tài sản trên đất không còn, từ đó, xác định thẩm quyền giải quyết thuộc về UBND tại địa phương nơi đương sự cư trú là không đúng với quy định của pháp luật, chưa quán triệt hết tinh thần hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP và như vậy sẽ làm ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn một khi bị đơn cố tình gây trở ngại cho việc giải quyết, thậm chí không bảo vệ được quyền lợi của nguyên đơn. Người viết cũng không đồng tình với quan điểm thứ ba, mà theo quan điểm này, căn cứ vào Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-TCĐC ngày 03/01/2002 của Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Tổng cục Địa chính, hướng dẫn về thẩm quyền của Tòa án nhân dân về giải quyết các tranh chấp liên quan đền quyền sử dụng đất, để giải quyết mà hướng dẫn tại tiểu mục 3.3, mục 3 phần I của Thông tư liên tịch này so với hướng dẫn tại tiểu mục 1.3, mục 1, phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP gần như giống nhau về mặt nội dung và cùng đều là văn bản nằm trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Điều 2, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008). Vậy ưu tiên áp dụng văn bản nào? Theo quan điểm người viết, phải ưu tiên áp dụng văn bản ra đời sau. Điều này được thể hiện trong quyển Giáo trình kỹ năng tư vấn pháp luật – Bài “ Tư vấn đàm phán, ký kết hợp đồng” của tác giả TS Phan Chí Hiếu (2012) - NXB Công an nhân dân, tr 237 có ghi: “Nếu các văn bản cùng có giá trị pháp lý thì ưu tiên áp dụng văn bản ra đời sau”.

Bốn là, những người thừa kế theo pháp luật ở hàng thừa kế thứ nhất của cụ L được xác định là 04 người (gồm cụ K, ông A, ông Q và bà S). Cụ L chết không để lại di chúc, nên phát sinh quan hệ thừa kế theo pháp luật. Từ thời điểm mở thừa kế đã làm phát sinh quan hệ thừa kế theo pháp luật giữa cụ L và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ, họ có các quyền và nghĩa vụ về tài sản do ông để lại. Theo quy định điểm a tiểu mục 2.4 mục 2 phần I Nghị quyết số 02, thì “... hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1….

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung”.

Trong vụ án này, tháng 4/1982 cụ L chết, tháng 12/2004 cụ K chết, ngày 04/8/2006 ông Q có đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của bố mẹ mình để lại, như vậy từ thời điểm mở thừa kế chia di sản của cụ L để lại tính đến thời điểm phát sinh tranh chấp (04/8/2006) là khoảng 24 năm, trong khi đó hướng dẫn của Nghị quyết số 02 như vừa nêu trên quy định “sau khi kết thúc thời hạn mười năm”- Đây là thỏa mãn thứ nhấttrong suốt quãng thời gian đó (sau khi kết thúc thời hạn 10 năm) các đồng thừa kế gồm cụ K, ông A, ông Q và bà S không có tranh chấp về hàng thừa kế - Đây là thỏa mãn thứ hai;  các đồng thừa kế đều thừa nhận đó là di sản của cụ L để lại chưa chia - Đây là thỏa mãn thứ ba. Từ 03 điều kiện đều thỏa mãn như vừa phân tích, theo quan điểm của người viết, trường hợp này đủ điều kiện để coi di sản mà cụ L để lại chuyển thành tài sản chung của các thừa kế, nên khi ông Qcó đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thì Toà án không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết là phù hợp với hướng dẫn tại điểm a.3, tiểu mục 2.4, mục 2, phần I của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP.

Năm là,nếu vận dụng Điều 247 BLDS, xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu, như quan điểm thứ tư rõ ràng là không ổn, bởi theo quy định tại điều luật này:1. Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. 2. Người chiếm hữu tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước không có căn cứ pháp luật thì dù ngay tình, liên tục, công khai, dù thời gian chiếm hữu là bao lâu cũng không thể trở thành chủ sở hữu tài sản đó”. Kể từ thời điểm mở thừa kế sau khi cụ L chết cho đến trước khi ông Q có đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cha mẹ để lại, thời gian này kéo dài khoảng 24 năm, tuy vợ chồng ông A công khai sử dụng và những người thân trong gia đình không ai phản đối, nhưng để xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều 247 BLDS, thì: ... thời hạn mười năm đối với động sản ba mươi năm đối với bất động sản. Hơn nữa ngôi nhà cấp 4 gỗ lim, xây tường gạch xung quanh có diện tích 49m2, là công trình được xây cất trên diện tích đất 394 m2, nên không thể tách biệt giữa động sản với bất động sản, do vậy việc áp dụng Điều 247 BLDS như quan điểm này đề xuất là không khả thi, không phù hợp với thực tế.

Từ những phân tích trên, theo quan điểm của người viết trong trường hợp này phải xem di sản của ông A để lại là tài sản chung của các thừa kế, khi có tranh chấp  yêu cầu Tòa án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết, có như vậy mới giải quyết triệt để yêu cầu khởi kiện, vì suy cho cùng mục đích cuối cùng của các nguyên đơn là chia tài sản của người chết để lại mà lẽ ra theo quy định của pháp luật họ được phải thừa hưởng và trong thực tế trong đời sống xã hội dân sự ở nước ta hiện nay đang tồn tại loại tranh chấp tương tự như thế là rất nhiều.

Trên đây là những quan điểm khác nhau về giải quyết tranh chấp thừa kế di sản là tài sản gắn liền trên đất và quyền sử dụng đất đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật về thừa kế. Rất mong nhận sự quan tâm trao đổi cùng Quí bạn đọc.

Th.S Lê Văn Sua



[1] 1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

5. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

[2]Thời hiệu khởi kiện về thừa kế

Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

[3] Trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó không có một trong các loại giấy tờ được hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 và tiểu mục 1.2 mục 1 này nhưng có di sản là nhà ở, vật kiến trúc khác (như: nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà để ô tô, nhà thờ, tường xây làm hàng rào gắn với nhà ở, các công trình xây dựng trên đất được giao để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh như nhà xưởng, kho tàng, hệ thống tưới, tiêu nước, chuồng trại chăn nuôi hay vật kiến trúc khác hoặc trên đất có các tài sản khác như cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây ăn quả, cây công nghiệp hay các cây lâu năm khác) gắn liền với quyền sử dụng đất đó mà có yêu cầu chia di sản thừa kế, thì cần phân biệt các trường hợp sau:

a. Trong trường hợp đương sự có văn bản của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng chưa kịp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì Toà án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất đó.

[4] Định giá tài sản trong trường hợp tài sản bị thất lạc hoặc không còn

1. Trong trường hợp tài sản cần định giá bị thất lạc hoặc không còn, thì việc định giá tài sản được thực hiện trên hồ sơ của tài sản, trên cơ sở các thông tin, tài liệu thu thập được về tài sản cần định giá.

2. Việc định giá tài sản quy định tại khoản 1 Điều này phải tuân theo các trình tự, thủ tục định giá tài sản quy định tại Điều 11, 12, 13, 15, 16, 17, 18 và 19 của Nghị định này.

Nguồn: Bộ Tư Pháp

Luật Sư Tư Vấn Thủ Tục Khởi Kiện Thừa Kế Nhà Đất

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Thừa Kế

Thừa kế theo pháp luật là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người khác còn sống theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định. Khi xảy ra tranh chấp di sản thừa kế, cá nhân, tổ chức có thể yêu cầu tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết theo trình tự bộ luật tố tụng dân sự quy định.

Thành phần hồ sơ khởi kiện:

+ Đơn khởi kiện (theo mẫu)

+ Các giấy tờ về quan hệ giữa người khởi kiện và người để lại tài sản: Giấy khai sinh, Chứng minh thư nhân dân, giấy chứng nhận kết hôn, sổ hộ khẩu, giấy giao nhận nuôi con nuôi để xác định diện và hàng thừa kế;

+ Giấy chứng tử của người để lại di sản thừa kế;

+ Bản kê khai các di sản;

+ Các giấy tờ, tài liệu chứng minh sở hữu của người để lại di sản và nguồn gốc di sản của người để lại di sản;

+ Các giấy tờ khác: Biên bản giải quyết trong hộ tộc, biên bản giải quyết tại UBND xã, phường, thị trấn ( nếu có), tờ khai từ chối nhận di sản ( Nếu có).

Sau khi nhận được đơn khởi kiện, Tòa án phải xem xét những tài liệu, chứng cứ cần thiết, nếu xét thấy thuộc thẩm quyền của mình thì Tòa án sẽ thông báo cho đương sự biết để đương sự nộp tiền tạm ứng án phí.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, đương sự phải nộp tiền tạm ứng án phí. Sau khi nộp tiền tạm ứng án phí, đương sự nộp lại biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án. Tòa án thụ lý việc dân sự hoặc vụ án dân sự kể từ khi nhận được biên lai này.

Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.

Theo quy định của Bộ luật dân sự, thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác quyền thừa kế của người khác là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Đối với yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại, thời hiệu khởi kiện là ba năm kể từ thời điểm mở thừa kế.

Để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của những người thừa kế, Công ty tư vấn pháp luật, Trí Tuệ Luật thực hiện tư vấn cho quý khách hàng một số vấn đề liên quan đến phân chia di sản và khởi kiện phân chia di sản thừa kế theo pháp luật như sau:

- Tư vấn thời hiệu khởi kiện;

- Tư vấn trình tự, thủ tục khởi kiện;

- Tư vấn soạn đơn khởi kiện và hồ sơ khởi kiện;

- Tư vấn phân chia di sản thửa kế theo pháp luật;

- Tư vấn các vấn đề khác liên quan đến thừa kế và khởi kiện thừa kế.

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Luật sư Gia Đình đang mở rộng và luôn nỗ lực hoàn thiện nhiều loại hình dịch vụ đa dạng trong khu vực, trong nước và trên thế giới nhằm mang lại cho khách hàng của mình những dịch vụ tư vấn hoàn hảo nhất.

     Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình được nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực hỗ trợ luật sư là đối tác tư vấn pháp luật trên Đài tiếng nói Bình Dương, Đài truyền hình Bình Dương, Đài Đài Truyền hình HTV, Đài truyền hình Vĩnh Long, Đài VOV Giao Thông, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài phát thanh Kiên Giang, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Trân trọng cảm ơn.

ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)

Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)
5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)
68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 08-38779958; Fax: 08-38779958
Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006

Luật Sư Tư Vấn Về Quyền Thừa Kế Tại Việt Nam

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Thừa Kế

Trường hợp bố của anh/chị có để lại di chúc hợp pháp thì di sản của người bố sẽ được phân chia theo di chúc. Trường hợp người bố không để lại di chúc, hoặc di chúc không hợp pháp thì di sản sẽ được phân chia đều cho những người thừa kế cùng hàng thừa kế theo pháp luật.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015 thì hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.

Tuy nhiên bố mẹ của anh/chị đã ly hôn nên mẹ của anh/chị không được hưởng thừa kế từ bố của anh/chị nữa. Vì vậy, anh/chị cần xác định trước hết là bố của anh/chị có để lại di chúc hợp pháp hay không, nếu không thì ngoài anh/chị và bà nội còn có ai là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất hay không để cùng thực hiện thủ tục khai nhận và phân chia di sản thừa kế tại (văn) phòng công chứng theo thủ tục pháp luật quy định.

Trường hợp người bà không đồng ý việc phân chia di sản thừa kế tại văn phòng công chứng thì anh/chị có thể khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án phân chia di sản thừa kế theo pháp luật.

Một di chúc được xem là hợp pháp khi đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.”

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Luật sư Gia Đình đang mở rộng và luôn nỗ lực hoàn thiện nhiều loại hình dịch vụ đa dạng trong khu vực, trong nước và trên thế giới nhằm mang lại cho khách hàng của mình những dịch vụ tư vấn hoàn hảo nhất.

     Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình được nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực hỗ trợ luật sư là đối tác tư vấn pháp luật trên Đài tiếng nói Bình Dương, Đài truyền hình Bình Dương, Đài Đài Truyền hình HTV, Đài truyền hình Vĩnh Long, Đài VOV Giao Thông, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài phát thanh Kiên Giang, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Trân trọng cảm ơn.

ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)

Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)
5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)
68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 08-38779958; Fax: 08-38779958
Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006

Luật Sư Chuyên Về Tranh Chấp Thừa Kế Tại Sài Gòn

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Thừa Kế

Một vụ kiện tranh chấp tài sản ở TP HCM: Cố tình bỏ qua hàng thừa kế?

Vụ kiện tranh chấp tài sản có dấu hiệu sai phạm liên quan đến việc cấp Giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở một tài sản khác.

Trong vụ kiện tranh chấp tài sản giữa bà Nguyễn Thị Vui và ông Huỳnh Lâm Phước (đang được TAND quận Bình Thạnh thụ lý giải quyết), đã có dấu hiệu sai phạm liên quan đến việc cấp Giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN) cho ông Phước ở một tài sản khác.

Hình minh họa.

UBND quận Bình Thạnh có làm thất thoát tiền thu thuế sử dụng đất của Nhà nước hay bỏ sót quyền lợi hợp pháp của những người đồng thừa kế trong việc cấp GCN cho ông Huỳnh Lâm Phước và vợ Lý Tú Ngọc tại địa chỉ 26/2 Huỳnh Đình Hai, P.24, Q.Bình Thạnh, TP HCM hay không đang là vấn đề được bàn cãi.

Ông Huỳnh Lâm Phước được hưởng thừa kế căn nhà 26/1 (nay là 26/2) Huỳnh Đình Hai, P.24, Q.Bình Thạnh theo di chúc của ông Huỳnh Văn Tràng (bố ông Phước) vào năm 1992.

Theo hồ sơ tại UBND quận Bình Thạnh lưu giữ, năm 1999, với tư cách người được hưởng thừa kế , ông Phước đứng tên kê khai đăng ký nhà đất thửa đất bằng khoán điền thổ số 1369 với tổng diện tích là gần 400m2.

Đến năm 2001, gia đình ông Phước xây dựng lại nhà trên diện tích đất trên và thực hiện mở rộng diện tích đất sinh hoạt ra phần diện tích giáp ranh.

Ngày 23/6/2008, ông Phước được UBND quận Bình Thạnh cấp GCN số 3138/2008 đối với căn nhà 26/1 Huỳnh Đình Hai với tổng diện tích là 1208,2m2.

Tại Phiếu chuyển thông tin địa chính để xác định nghĩa vụ tài chính số 2116 ngày 23/6/2008, UBND quận Bình Thạnh xác nhận tổng diện tích đất ông Phước xin cấp GCN là 1208,2m2 trên cơ sở là bằng khoán điền thổ số 1369 do ông Huỳnh Văn Tràng để lại và phần diện tích còn lại (792,2m2) được xét công nhận theo khoản 1 Điều 14, Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 (nghĩa là phải đóng tiền thuế sử dụng đất).

Thế nhưng, sau khi được cấp GCN ông Phước lại cho rằng, phần đất ngoài bằng khoán 1369 ông được cấp (phần đất lấn giáp ranh — PV) thuộc bằng khoán điền thổ 1356 và 172 cũng của cha ông là Huỳnh Văn Tràng đứng tên để lại nên đề nghị UBND quận xem xét lại nghĩa vụ tài chính.

Do đó, tại Phiếu chuyển 879/PC-TNMT ngày 25/3/2009, Phòng TN&MT quận Bình Thạnh đã xác nhận lại nhà đất của ông Phước được xét công nhận theo khoản 2, Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 (diện tích 1137,9m2) và theo Khoản 1 Điều 14, Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ (diện tích 70,3m2) Đáng nói, theo hồ sơ di chúc, ông Tràng chỉ cho ông Phước được hưởng thừa kế diện tích đất theo bằng khoán điền thổ 1369 chứ không cho ông Phước được hưởng 2 thửa đất có bằng khoán điền thổ 1356 và 172.

Như vậy, việc UBND quận Bình Thạnh chấp thuận cấp GCN cho ông Phước thêm 2 thửa đất 1356 và 172 là không hợp với ý chí của ông Tràng cũng như phù hợp với thực tế khách quan.

Bởi ông Tràng có 3 người vợ với 5 người con và tại thời điểm lập di chúc, ông Tràng có ý chí phân rõ tài sản của mình cho các con.

Cụ thể, tại di chúc ông Tràng chỉ rõ chỉ cho ông Phước thừa hưởng thửa đất 1369 và đáng chú ý cũng tại thời điểm năm 1999, gia đình ông Tràng đã có tranh chấp giữa những người con của ông Tràng về quyền sở hữu căn nhà 26/1 Huỳnh Đình Hai (ông Phước thừa nhận tại Tờ đăng ký nhà đất ngày 17/9/1999), nhưng vẫn được cơ quan này bỏ qua.

Công Lý

Giới Thiệu Luật Sư Trần Minh Hùng

link s75   Luật sư Trần Minh Hùng là một trong những luật sư có nhiều kinh nghiệm về kiến thức, thực tiễn và đã từng thắng nhiều vụ kiện. Luật sư Minh Hùng luôn coi trọng chữ Tâm của nghề luật sư và trách nhiệm đối với xã hội nên đã được nhiều hãng báo chí, truyền thông, phỏng vấn về nhiều lĩnh vực quan trọng liên quan đến đời sống xã hội và được mời làm ban giám khảo các cuộc thi liên quan đến pháp luật... 
Hotline:0972238006