Luật Sư Tranh Tụng

Bản án 41/2017/HSST tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Tranh Tụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 41/2017/HSST NGÀY 16/08/2017 TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 16 tháng 8 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 33/2017/HSST ngày 09 tháng 5 năm 2017 đối với bị cáo:

Huỳnh Như Q, sinh năm 1983, tại Bến Tre;

ĐKTT: Ấp P, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre;

Nơi cư trú: khu phố X, phường B, quận B, TP HCM. Trình độ học vấn: 6/12;

Nghề nghiệp: Không;

Con ông: Huỳnh Công T và bà: Mai Ngọc D;

Bị cáo có vợ tên Châu Thị Tường V (đã ly hôn), có 02 người con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2007;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/10/2016. (Có mặt tại phiên tòa).

* Người bào chữa:

- Luật sư Trương Văn T – Văn phòng Luật sư Trương Văn T - thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bến Tre.

* Người bị hại:

- Lữ Thị Mộng C, sinh năm 1983; Nghề nghiệp: Buôn bán. (có mặt) ĐKTT: Ấp T, xã K, huyện M, tỉnh Bến Tre.

- Đỗ Thị Thanh T, sinh năm 1977; Nghề nghiệp: Uốn tóc. (có mặt)

ĐKTT: Ấp 2, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Lê Thị C, sinh năm 1977; (vắng mặt). ĐKTT: Ấp T, xã K, huyện M, tỉnh Bến Tre

2. Lữ Thị C, sinh năm 1981; (vắng mặt). ĐKTT: Ấp T, xã K, huyện M, tỉnh Bến Tre.

3. Lữ Văn A, sinh năm 1977; (vắng mặt). ĐKTT: Ấp T, xã K, huyện M, tỉnh Bến Tre.

4. Mai Ngọc D, sinh năm 1963; (có mặt). ĐKTT: Ấp B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre.

5. Lê Ngọc D, sinh năm 1982; (có mặt).

ĐKTT: phường Y, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

6. Trần Nhựt P, sinh năm 1988; (vắng mặt). ĐKTT: Ấp M, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre.

7. Huỳnh Thị P, sinh năm 1975; (vắng mặt). ĐKTT: Ấp 2, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre

* Người làm chứng:

1. Đặng Thị M, sinh năm 1969; (có mặt). ĐKTT: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre

2. Lữ Thị Tuyết N, sinh năm 1969; (vắng mặt). ĐKTT: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre.

NHẬN THẤY

Bị cáo Huỳnh Như Q bị Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Do muốn có tiền tiêu xài nên Huỳnh Như Q và các đối tượng Phạm Thanh S, Đặng Thị Thu V (vợ của S), Đặng Trường H (anh ruột V), cùng bàn bạc về việc tìm những người phụ nữ nhẹ dạ dễ tin dàn cảnh đánh bài để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2016, Q cùng các đối tượng nêu trên đã thực hiện 02 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, cụ thể như sau:

Vụ thứ 1: Vào khoảng đầu tháng 5/2016, S giả vờ gọi nhầm số điện thoại của chị Lữ Thị Mộng C, sau đó gọi lại làm quen, xưng tên là H, chuyên làm gỗ ở Vĩnh Long, qua nhiều lần liên lạc và hẹn gặp mặt. Khi ra gặp thì Q đi, lấy tên giả là H hẹn gặp chị C vài lần đi ăn uống và hứa hẹn chuyện tình cảm. Để tạo thêm lòng tin với chị C, vào ngày 26/5/2016, Q thuê xe ô tô đến gặp và chở chị C về quê chị C chơi đến chiều quay trở lên Thành phố Bến Tre cùng thuê khách sạn Huyền My ở phường P, Tp Bến Tre nghỉ lại qua đêm. Đến sáng ngày 27/5/2016, S giả vờ gọi điện thoại kêu trả tiền gỗ để Q chở chị C đến nơi S đã sắp đặt sẵn trước đó. Q chở chị C đến nhà bà Đặng Thị M, sinh năm 1969; ĐKTT: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre, gặp S (lúc này S xưng là N, chủ nhà) lấy 20.000.000 đồng để tạo lòng tin của chị C. S nói với Q sáng giờ đánh bài thua thì Q nói mới có chiêu gian lận để Q ra sau đánh bài. Lúc này, có V, H cùng người phụ nữ trung niên (không rõ họ tên địa chỉ) đang đánh bài nhưng không sử dụng tiền mặt mà đổi ra phỉnh để chơi (viết mệnh giá số tiền ra giấy). Q mượn chị C 2.000.000 đồng, đánh được 03 ván thì Q thắng khoảng 200.000.000 đồng nhưng theo thỏa thuận trước đó ai thắng phải có đủ số tiền tương ứng mới nhận được số tiền thắng. Q giả vờ gọi điện thoại cho S mượn tiền nhưng không lấy kịp nên nói chị C mượn dùm và hứa sẽ cho tiền chị C. Chị C nghe vậy liền gọi điện thoại mượn chị ruột là Lữ Thị X, chị dâu Lê Thị M và lấy số vàng chị C gửi trước đó gồm số tiền 11.000.000 đồng và nhiều trang sức lắc, nhẫn, dây chuyền, vòng đeo tay, tổng cộng 20 chỉ vàng 24K, 27,2 chỉ vàng 18K. Q trực tiếp chở chị C đi lấy tiền và vàng ở huyện Mỏ Cày. Sau đó, trên đường về Q nói vẫn chưa đủ tiền nên nói chị C cầm luôn chiếc xe Airblade của chị C đang đi với giá 25.000.000 đồng. Khi trở lại nơi S đang đợi, chị C đưa toàn bộ tiền, vàng cho Q. Sau đó, Q cùng đồng bọn giả vờ tiếp tục đánh bạc và thua hết tiền, Q nói chị C ở lại đợi để Q và S đi mượn tiền (mục đích đi trốn chị C). Sau khi S và Q đi, Q điện thoại cho chị C nói ra tiệm vàng Kim Ngọc ở chợ Bến Tre phụ kiểm tiền vì mượn USD đổi ra tiền Việt Nam, nhằm tạo cơ hội cho những người còn lại tẩu thoát. Do tin tưởng Q nên chị C đi được một đoạn thì Q điện thoại nói khỏi đến tiệm vàng vì cha của Q bị tai nạn nên phải về nhà gấp. Nghi ngờ bị lừa nên chị C quay lại nơi đánh bài thì không còn ai nên đã trình báo Công an. Sau khi lấy được số tiền vàng, cả nhóm đi lên Thành phố Hồ Chí Minh, S bán vàng và chia cho Q khoảng 34.000.000 đồng, đã tiêu xài cá nhân hết.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 áo sơ mi dài tay sọc đứng màu trắng xám;

- 01 mắt kính màu đen có chữ Polanzed;

- 02 sim điện thoại gồm 01 sim mobifone số sim 8401150433043390, 01 sim Viettel số sim 8984048704023883943;

- 01 giấy CMND, 01 thẻ ATM, 02 giấy phép lái xe hạng A1 và B2 mang tên Huỳnh Như Quốc;

- 01 xe mô tô biển số 59Y1-734.67, số máy JF46E5524088, số khung 4611EY823961 và giấy đăng ký xe mang tên Lê Công N;

- Số tiền 10.000.000 đồng;

- 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen số Imei 356497067245330, có số thuê bao 0903493574;

- 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen số Imei 356713053913735, có số

thuê bao 0972494979;

- 01 điện thoại di động Nokia 225 màu đen số Imei 1 353717078024363, số

Imei 2 353717078024371, có số thuê bao 0903463539 và 0974565829;

- 01 nón kết màu đen, 01 đôi giày da màu nâu đỏ hiệu Dr Martens, 01 mắt kính màu đen gọng kính màu xám có chữ Wins màu đỏ cất trong bao kính màu đen, 01 cây gậy ba khúc bằng kim loại (dũ ba khúc) màu đen cất trong bao gậy màu đen, 01 giấy bán xe mô tô biển số 59Y1-734.67;

- 04 đĩa CD trong đó gồm 02 đĩa ghi âm và 02 đĩa ghi hình;

- 01 túi xách nhựa màu nâu.

Tại Bản kết luận định giá trị tài sản số 1025 ngày 14/10/2016, của Hội đồng định giá tài sản huyện C đã kết luận tài sản bị chiếm đoạt:

- 01 chiếc lắc vàng 24K, trọng lượng 05 chỉ giá trị 16.750.000 đồng;

- 01 chiếc lắc vàng 24K, trọng lượng 05 chỉ giá trị 16.750.000 đồng;

- 01 chiếc nhẫn vàng 24K, trọng lượng 03 chỉ giá trị 10.050.000 đồng;

- 01 chiếc nhẫn vàng 24K, trọng lượng 05 chỉ giá trị 16.750.000 đồng;

- 02 chiếc nhẫn vàng 24K loại nhẫn trơn, trọng lượng mỗi chiếc 01 chỉ giá trị 6.750.000 đồng;

- 01 chiếc nhẫn vàng 18K, trọng lượng 3,2 chỉ giá trị 6.624.000 đồng;

- 01 chiếc nhẫn vàng 18K có đính hột màu trắng, trọng lượng 1,8 chỉ giá trị 3.726.000 đồng;

- 01 chiếc nhẫn vàng 18K có hình chữ cong, trọng lượng 1,7 chỉ giá trị 3.519.000 đồng;

- 01 sợi dây chuyền vàng 18K mặt cẩm thạch, trọng lượng 04 chỉ giá trị 8.280.000 đồng;

- 01 sợi dây chuyền vàng 18K mặt tròn có đính hột màu trắng, trọng lượng 04 chỉ giá trị 8.280.000 đồng;

- 01 sợi dây chuyền vàng 18K, trọng lượng 02 chỉ giá trị 4.140.000 đồng;

- 01 chiếc lắc vàng 18K, trọng lượng 03 chỉ giá trị 6.210.000 đồng;

- 02 bộ vòng đeo tay vàng 18K, 13 chiếc, trọng lượng 7,5 chỉ giá trị 15.525.000 đồng;

Tổng giá trị tài sản là 123.354.000 đồng.

Vụ thứ 2: Với thủ đoạn như trên, S gọi vào số điện thoại di động của chị Đỗ Thị Thanh T giả vờ nói là giao đồ gỗ để kiếm cớ làm quen. S xưng tên là C, nhà ở quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh buôn bán đồ gỗ. Sau đó thường xuyên nhắn tin, điện thoại liên lạc với chị T và hẹn gặp mặt. Đến khi gặp nhau thì Q trực tiếp đứng ra gặp mặt chị T dưới tên C hẹn chị T đi uống cà phê ở Tiền Giang rồi cả hai ăn uống xong ra về. Đến sáng ngày 06/7/2016, Q rủ chị T uống cà phê rồi cùng nhau vào nhà nghỉ Song Quê trên địa bàn thị trấn C. Một lúc sau, Q rủ chị T đi lấy tiền gỗ, chị T đồng ý, Q điều khiển xe của chị T chở chị T đến nhà bà Lữ Thị Tuyết N mà S đã bố trí sẵn. Tại đây, S giả vờ đưa khoảng 25.000.000 đồng gói trong giấy cho Q trước sự chứng kiến của chị T để tạo lòng tin. Sau đó, S nói thua đánh bài hết mấy chục triệu, Q giả vờ nói có chiêu đánh bài gian lận hay lắm nên tham gia. Q mượn thêm của chị T số tiền 5.600.000 đồng rồi đến nhà phía sau cùng mọi người đánh bài, chị T đến xem, phía sau nhà có V, H cùng 02 người phụ nữ trung niên (không rõ họ tên địa chỉ) đợi sẵn. Do đã chuẩn bị nên Q thắng số tiền khoảng 200.000.000 đồng nhưng do giao kèo trước muốn lấy số tiền này phải có số tiền mặt tương đương, sau hai tiếng không có thì sẽ mất. Q đi ra ngoài giả vờ gọi điện thoại cho S mượn tiền nhưng không mượn được do ở xa. Q liền hỏi mượn chị T và hứa sẽ cho tiền nhưng chị T nói có thể mượn của người khác nhưng phải có lãi. Chị T điện thoại hỏi mượn của chị Huỳnh Thị P, sinh năm 1975, số tiền 80.000.000 đồng, mượn của anh Trần Nhựt P, sinh năm 1988, số tiền 70.000.000 đồng. Q điều khiển xe mô tô chở chị T về lấy tiền và quay lại nơi đánh bạc, chị T đưa hết số tiền 150.000.000 đồng cho Q. Lúc này, thấy chị T còn đeo vàng nên Q tiếp tục hỏi mượn, Q lấy 01 chiếc nhẫn, 01 sợi dây chuyền, 01 đôi bông tai, còn S cắt bộ vòng tay đang đeo trên tay, tổng cộng 11 chỉ vàng 18K. Sau đó, Q dàn cảnh đánh thua rồi kêu chị T ở lại đợi để Q và S đi mượn tiền trả. Đi được một lúc thì Q điện thoại kêu chị T đến thành phố Bến Tre phụ đếm tiền để chị T rời khỏi nhà cho những người còn lại trốn thoát. Sau đó, Q tiếp tục điện thoại nói đã về thành phố Hồ Chí Minh rồi khóa điện thoại không liên lạc được. Đến ngày 07/7/2016, chị T trình báo Công an huyện Châu Thành.

Tại Bản kết luận định giá trị tài sản số 803 ngày 05/8/2016, của Hội đồng định giá tài sản huyện C đã kết luận tài sản bị chiếm đoạt:

- 01 sợi dây chuyền vàng 18K loại khoen ống trúc, trọng lượng 02 chỉ giá trị 5.640.000 đồng;

- 01 chiếc nhẫn vàng 18K, trọng lượng 01 chỉ giá trị 2.820.000 đồng;

- 01 đôi bông tai vàng 18K, trọng lượng 01 chỉ giá trị 2.820.000 đồng;

- 01 bộ vòng đeo tay vàng 18K, 14 chiếc, trọng lượng 07 chỉ giá trị 19.740.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản là 31.020.000 đồng.

Trong quá trình điều tra Huỳnh Như Q đã tác động gia đình bồi thường xong cho chị C với số tiền 161.354.000 đồng và chị C không có yêu cầu gì khác, bồi thường cho chị T số tiền 30.000.000 đồng, chị T yêu cầu Q tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 156.620.000 đồng. Hiện chị C và chị T đã xin bãi nại giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Q.

Cáo trạng số 37/KSĐT-TA ngày 08/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo Huỳnh Như Q về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 139 Bộ Luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 139; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 47 và Điều 33 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Như Q từ 04 năm đến 05 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự:

- Ghi nhận bị cáo đã tác động gia đình bồi thường xong cho chị Lữ Thị Mộng C với số tiền 161.354.000 đồng và chị C không có yêu cầu gì khác.

- Ghi nhận bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho chị Đỗ Thị Thanh T số tiền 30.000.000 đồng. Buộc bị cáo tiếp tục bồi thường tiếp cho chị T theo quy định.

Về xử lý vật chứng:

- Trả lại cho bị cáo:

+ 01 áo sơ mi dài tay sọc đứng màu trắng xám;

+ 01 mắt kính màu đen có chữ Polanzed;

+ 01 giấy CMND, 01 thẻ ATM, 02 giấy phép lái xe hạng A1 và B2 mang tên Huỳnh Như Q;

+ 01 nón kết màu đen, 01 đôi giày da màu nâu đỏ hiệu Dr Martens, 01 mắt kính màu đen gọng kính màu xám có chữ Wins màu đỏ cất trong bao kính màu đen.

+ 02 sim điện thoại gồm 01 sim mobifone số sim 8401150433043390, 01 sim

Viettel số sim 8984048704023883943;

+ 01 cây gậy ba khúc bằng kim loại (dũ ba khúc) màu đen cất trong bao gậy màu đen.

- Trả lại cho chị C 01 túi xách nhựa màu nâu.

- Giao Công an huyện Châu Thành thông báo tìm chủ sở hữu 01 xe mô tô biển số 59Y1-734.67, số máy JF46E5524088, số khung 4611EY823961 và giấy đăng ký xe mang tên Lê Công N cùng 01 giấy bán xe mô tô biển số 59Y1-734.67;

- Tiếp tục tạm giữ đảm bảo thi hành án:

+ Số tiền 10.000.000 đồng;

+ 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen số Imei 356713053913735, có số thuê bao 0972494979; 01 điện thoại di động Nokia 225 màu đen số Imei 1 353717078024363, số Imei 2 353717078024371, có số thuê bao 0903463539, 01 sim điện thoại có số thuê bao 0903493574.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

+ 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen số Imei 356497067245330 và 01 sim điện thoại có số thuê bao 0974565829;

- Lưu giữ 04 đĩa CD trong đó gồm 02 đĩa ghi âm và 02 đĩa ghi hình;

* Người bào chữa cho bị cáo trình bày:

Về tội danh đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo có hành vi phạm tội quy định tại điểm a khoản 3 Điều 139 Bộ luật hình sự.

Về việc áp dụng hình phạt: Bị cáo có thành ý tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Cụ thể bị cáo tác động gia đình bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt của chị C là 161.354.000 đồng. Bồi thường cho chị T số tiền là 30.000.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo yêu cầu tiếp tục sử dụng số tiền mặt 10.000.000 đồng của bị cáo bị tạm giữ và chiếc xe AirBlade biển số 59Y1-734.67 của bị cáo để khắc phục hậu quả cho chị T. Ngoài ra, chị C và chị T có đơn bãi nại yêu cầu Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bà cố của bị cáo là Trần Thị G là Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Bác của ba bị cáo là ông Huỳnh Văn D là liệt sĩ, có công với đất nước. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự để áp dụng dưới khung hình phạt cho bị cáo với mức hình phạt là 04 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo tiếp tục bồi thường thiệt hại số tiền còn lại cho chị T.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị C, Lữ Thị C, Trần Nhựt P, Lữ Văn A, Huỳnh Thị P; người làm chứng Lữ Thị Tuyết N vắng mặt không có lý do. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị Tòa án tiếp tục xét xử do sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này là phù hợp với quy định tại Điều 191, Điều 192 Bộ Luật Tố tụng Hình sự

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Huỳnh Như Q khai nhận: Do mục đích tư lợi bất chính, vào ngày 27/5/2016 và 06/7/2016, tại ấp P, xã P và ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre, Huỳnh Như Q cùng Phạm Thanh S, Đặng Thị Thu V, Đặng Trường H và một số đối tượng khác (không rõ họ tên địa chỉ) đã có hành vi bàn bạc trước, phân công Q chủ động làm quen với chị Lữ Thị Mộng C và Đỗ Thị Thanh T để tạo lòng tin. Sau đó, dàn cảnh giả vờ đánh bạc cho Q thắng để mượn tiền, vàng của chị C và chị T nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền và vàng. Do tin tưởng nên chị C đã cho Q mượn số tiền 38.000.000 đồng và số vàng giá trị 123.354.000 đồng, chị T cho Q mượn số tiền 155.600.000 đồng và số vàng giá trị 31.020.000 đồng. Tổng tài sản mà Q chiếm đoạt là 347.974.000 đồng.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thủ đoạn, thời gian và đặc điểm tài sản bị cáo chiếm đoạt.

Tại Bản kết luận định giá trị tài sản số: 1025 ngày 14/10/2016 của Hội đồng định giá tài sản huyện C đã kết luận tài sản bị chiếm đoạt của Lữ Thị Mộng C gồm vàng 24K và vàng 18K trị giá là 123.354.000 đồng và 38.000.000 đồng tiền mặt.

Tại Bản kết luận định giá trị tài sản số: 803 ngày 05/8/2016 của Hội đồng định giá tài sản huyện C đã kết luận tài sản bị chiếm đoạt của chị Đỗ Thị Thanh T tổng cộng gồm: Vàng 18K trị giá 31.020.000 đồng và 155.600.000 đồng tiền mặt.

Hành vi của bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của chị C và chị T, tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 347.974.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Huỳnh Như Q đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 139 Bộ luật hình sự.

Bị cáo khai nhận đã có sự bàn bạc, chuẩn bị lên kế hoạch cùng với các đối tượng khác và là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, mục đích chiếm đoạt tài sản để có tiền tiêu xài, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo lợi dụng sự nhẹ dạ, cả tin của người bị hại để dễ dàng thực hiện hành vi phạm tội và trên thực tế bị cáo đã thực hiện và chiếm đoạt được tài sản của chị C và chị T như ý định của bị cáo.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện tội phạm, gây ra sự bất bình, hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm mọi người không an tâm trong lao động, sinh hoạt.

Xét tình tiết tăng nặng: Bị cáo Q đã thực hiện việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản hai lần. Cụ thể lừa đảo chị T và chị C là tình tiết tăng nặng “Phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự.

Xét các tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho chị C toàn bộ số tiền bị cáo đã chiếm đoạt là 161.354.000 đồng, bồi thường một phần cho chị T số tiền là 30.000.000 đồng. Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Chị C là người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Các tình tiết giảm nhẹ trên được quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo phạm tội nhiều lần trong thời gian ngắn nên cần thiết cách ly bị cáo một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là phù hợp. Đề nghị của người bào chữa cho bị cáo và Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự:

- Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường xong cho chị Lữ Thị Mộng C với số tiền 161.354.000 đồng và chị C không có yêu cầu gì khác nên ghi nhận.

- Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho chị Đỗ Thị Thanh T số tiền 30.000.000 đồng nên ghi nhận.

Tại phiên tòa, chị T yêu cầu bị cáo Q tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 156.620.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường nên ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và người bị hại là chị T. Buộc bị cáo tiếp tục bồi thường tiếp cho chị T số tiền 156.620.000 đồng là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng:

- Trả lại cho bị cáo:

+ 01 áo sơ mi dài tay sọc đứng màu trắng xám;

+ 01 mắt kính màu đen có chữ Polanzed;

+ 01 giấy CMND, 01 thẻ ATM, 02 giấy phép lái xe hạng A1 và B2 mang tên Huỳnh Như Quốc;

+ 01 nón kết màu đen, 01 đôi giày da màu nâu đỏ hiệu Dr Martens, 01 mắt kính màu đen gọng kính màu xám có chữ Wins màu đỏ cất trong bao kính màu đen.

+ 02 sim điện thoại gồm 01 sim mobifone số sim 8401150433043390, 01 sim Viettel số sim 8984048704023883943;

+ 01 cây gậy ba khúc bằng kim loại (dũ ba khúc) màu đen cất trong bao gậy màu đen.

- Trả lại cho chị C 01 túi xách nhựa màu nâu.

- Giao Công an huyện Châu Thành thông báo tìm chủ sở hữu 01 xe mô tô biển số 59Y1-734.67, số máy JF46E5524088, số khung 4611EY823961 và giấy đăng ký xe mang tên Lê Công N cùng 01 giấy bán xe mô tô biển số 59Y1-734.67;

- Tiếp tục tạm giữ đảm bảo thi hành án:

+ Số tiền 10.000.000 đồng;

+ 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen số Imei 356713053913735, có số thuê bao 0972494979; 01 điện thoại di động Nokia 225 màu đen số Imei 1 353717078024363, số Imei 2 353717078024371, có số thuê bao 0903463539, 01 sim điện thoại có số thuê bao 0903493574.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen số Imei 356497067245330.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 sim điện thoại có số thuê bao 0974565829;

- Lưu giữ 04 đĩa CD trong đó gồm 02 đĩa ghi âm và 02 đĩa ghi hình;

* Về án phí:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Huỳnh Như Q bị kết án nên phải chịu án phí là 200.000 đồng.

- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bị cáo Huỳnh Như Q phải chịu trách nhiệm dân sự nên phải chịu án phí là 156.620.000 x 5% = 7.831.000 đồng.

Quá trình điều tra, Phạm Thanh S, Đặng Thị Thu V, Đặng Trường H đã bỏ đi khỏi địa phương không làm việc được. Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách vụ án, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Riêng đối với bà Đặng Thị M và Lữ Thị Tuyết N, quá trình làm việc bà M và bà N khai không biết Q và cũng không cho ai thuê nhà, thời điểm xảy ra vụ việc bà M và bà N không có mặt tại nhà, phù hợp lời khai của Q, chị C và chị T. Do chưa đủ tài liệu chứng cứ chứng minh nên chưa có cơ sở xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Nhƣ Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 139, điểm b, p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 47 và Điều 33 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Như Q 05 (năm) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 27/10/2016.

Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự; Điều 608 và Điều 305 Bộ Luật Dân sự:

khoản 2 Điều 468 Bộ Luật Dân sự 2015:

2/ Về trách nhiệm dân sự:

- Ghi nhận bị cáo đã tác động gia đình bồi thường xong cho chị Lữ Thị Mộng C với số tiền 161.354.000 đồng và chị C không có yêu cầu gì khác.

- Ghi nhận bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho chị Đỗ Thị Thanh T số tiền 30.000.000 đồng.

Buộc bị cáo tiếp tục bồi thường tiếp cho chị Đỗ Thị Thanh T số tiền 156.620.000 đồng. (Một trăm năm mươi sáu triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng).

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, đồng thời có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu bị cáo chưa thi hành số tiền nêu trên thì phải chịu lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành xong.

Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

3/ Xử lý vật chứng:

- Trả lại cho bị cáo:

+ 01 áo sơ mi dài tay sọc đứng màu trắng xám;

+ 01 mắt kính màu đen có chữ Polanzed;

+ 01 giấy CMND, 01 thẻ ATM, 02 giấy phép lái xe hạng A1 và B2 mang tên Huỳnh Như Q;

+ 01 nón kết màu đen, 01 đôi giày da màu nâu đỏ hiệu Dr Martens, 01 mắt kính màu đen gọng kính màu xám có chữ Wins màu đỏ cất trong bao kính màu đen.

+ 02 sim điện thoại gồm 01 sim mobifone số sim 8401150433043390, 01 sim Viettel số sim 8984048704023883943;

+ 01 cây gậy ba khúc bằng kim loại (dũ ba khúc) màu đen cất trong bao gậy màu đen.

- Trả lại cho chị C 01 túi xách nhựa màu nâu.

- Giao Công an huyện Châu Thành thông báo tìm chủ sở hữu 01 xe mô tô biển số 59Y1-734.67, số máy JF46E5524088, số khung 4611EY823961 và giấy đăng ký xe mang tên Lê Công N cùng 01 giấy bán xe mô tô biển số 59Y1-734.67 và xử lý theo quy định;

- Tiếp tục tạm giữ đảm bảo thi hành án:

+ Số tiền 10.000.000 đồng;

+ 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen số Imei 356713053913735, có số thuê bao 0972494979; 01 điện thoại di động Nokia 225 màu đen số Imei 1 353717078024363, số Imei 2 353717078024371, có số thuê bao 0903463539, 01 sim điện thoại có số thuê bao 0903493574.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen số Imei 356497067245330.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 sim điện thoại có số thuê bao 0974565829;

- Lưu giữ 04 đĩa CD trong đó gồm 02 đĩa ghi âm và 02 đĩa ghi hình;

(Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 16/5/2017 giữa Cơ quan điều tra – Công an huyện Châu Thành với Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Bến Tre).

- Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 147 BLTTDS; Điều 23; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

4/ Về án phí:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Huỳnh Như Q phải chịu là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bị cáo Huỳnh Như Q phải chịu là 7.831.000 (Bảy triệu tám trăm ba mươi mốt nghìn) đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình

 

Luật Sư Chuyên Nhận Ủy Quyền

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Tranh Tụng

  • Khái niệm

Đại diện ngoài tố tụng trong dân sự là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền để xác lập, thực hiện giao dịch ngoài phạm vi tố tụng dân sự do Toà án tiến hành.

Đại diện ngoài tố tụng của luật sư trong việc dân sự là đại diện theo ủy quyền.

  • Xác định thời điểm đại diện ngoài tố tụng

2.1. Thời điểm bắt đầu:

  • Khi việc đại diện theo pháp luật phát sinh.
  • Khi việc đại diện theo ủy quyền được xác lập hợp pháp bằng Hợp đồng ủy quyền.

2.1. Thời điểm chấm dứt hợp đồng ủy quyền: theo pháp luật quy định hoặc khi hết hạn; khi công việc đã hoàn thành hoặc theo thỏa thuận; khi một bên chết, mất tích, đã chết, mất năng lực hành vi hoặc hạn chế năng lực hành vi; khi một bên đơn phương chấm dứt.

Đơn phương chấm dứt Hợp đồng ủy quyền:

  • Đối với hợp đồng có thù lao thì có thể chấm dứt bất cứ lúc nào nhưng phải trả thù lao và bồi thường thiệt hại nếu có.
  • Đối với hợp đồng không có thù lao, cũng có thể chấm dứt bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý, bên ủy quyền phải thông báo việc chấm dứt này cho bên thứ 3.
  • Việc xác lập đại diện ngoài tố tụng theo ủy quyền

  • Đại diện ngoài tố tụng theo ủy quyền: được xác lập bằng Hợp đồng ủy quyền theo quy định của BLDS (Điều 581). Hợp đồng ủy quyền có thể bằng văn bản hoặc bằng lời nói, có thể có công chứng, chứng thực hoặc không, tùy từng trường hợp cụ thể và tuỳ từng yêu cầu của mỗi bên.
  • Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên đại diện (bên được ủy quyền) có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên được đại diện (bên ủy quyền), còn bên được đại diện chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định.
  • Việc ủy quyền lại phải được bên ủy quyền đồng ý, hình thức phải phù hợp với hợp đồng ủy quyền chính và không vượt quá phạm vi.
  • Một số trường hợp đại diện ngoài tố tụng

  • Luật sư  đại diện pháp lý ngoài tố tụng bao gồm: Đại diện thường xuyên, đại diện theo vụ việc bao gồm:
  • Thay mặt Quý khách hàng thực hiện công việc theo ủy quyền trong việc; đàm phán và thực hiện các giao dịch dân sự với đối tác;
  • Thực hiện các thủ tục pháp lý tại cơ quan nhà nước;
  • Đàm phán và thực hiện các giao dịch dân sự với đối tác;
  • Luật sư đại diện trong việc đàm phán và giải quyết các tranh chấp hợp đồng;
  • Luật sư đại diện pháp lý thương lượng, hoà giải, giải quyết tranh chấp nội bộ liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của doanh nghiệp;
  • Luật sư đại diện thực hiện bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp, tham gia tố tụng tại Toà án hoặc Trọng tài;
  • Luật sư đại diện thực hiện hỗ trợ thi hành quyết định của Toà án, phán quyết Trọng tài cũng như các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;
  • Luật sư đại diện Pháp lý dàn xếp, thương lượng, hoà giải, giải quyết tranh chấp trong và ngoài tố tụng cho cá nhân, tổ chức, Doanh nghiệp trong các quan hệ pháp luật hình sự, dân sự, thừa kế, nhà đất
  • Tham vấn các yêu cầu hệ thống pháp chế doanh nghiệp...
  • Trân trọng.
  • LS TRẦN MINH HÙNG - ĐOÀN LS TPHCM- VPLS GIA ĐÌNH

Luật Sư Giỏi Chuyên Tranh Tụng Tại Tòa Án

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Tranh Tụng

Tư vấn luật về chiến lược giải quyết tranh chấp; phân tích và đánh giá về điểm mạnh, điểm yếu của các bên trong tranh chấp.

- Tư vấn về cách thức, biện pháp giải quyết tranh chấp; đại diện cho khách hàng trong việc đàm phán giải quyết tranh chấp với đối tác.

- Tham gia điều tra, thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ, tài liệu; tư vấn và hỗ trợ khách hàng soạn thảo, chuẩn bị hồ sơ xuất trình trước tòa án, trọng tài.

- Tư vấn về thủ tục và quy trình liên quan đến thi hành án; nhận đại diện trong thủ tục thi hành án dân sự.

- Đại diện theo ủy quyền và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự trong các vụ án/việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính.

- Bào chữa cho người bị nghi là tội phạm trong vụ án hình sự.

- Cử luật sư tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự trong các vụ án dân sự, kinh tế, lao động, hành chính, hôn nhân gia đình.

“Luật sư chuyên tranh tụng” được hiểu là các chủ thể thực hiện chức năng bào chữa bao gồm: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; người bào chữa, bị đơn dân sự; người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi của họ.

Nói đến người hành nghề luật là phải nói đến các luật sư, dù là luật sư hành nghề chuyên sâu về tranh tụng hay tư vấn thì luật sư luôn phải là một chuyên gia trong bất kỳ lĩnh vực nào mình tham gia. Trên thực tế có hay không một luật sư như vậy? Với ngành nghề khác thì không chắc nhưng với nghề luật sư thì điều kiện tiên quyết phải là như vậy bởi những đặc thù của nghề này.

Một luật sư tư vấn tranh tụng giỏi không phải tự nhiên mà có, họ phải rèn luyện kỹ năng, tích luỹ kiến thức, kinh nghiệm trong nhiều năm với quyết tâm cao và lòng yêu nghề. Bên cạnh đó, luật sư tranh tụng tại toà án cần rất nhiều kỹ năng để thực hiện tốt thiên chức của mình. Ngoài đòi hỏi kiến thức chuyên ngành tốt, luật sư tranh tụng cần phải có kỹ năng đối đáp, phản biện và đặc biệt là phải có “độ nhạy” trước các tình huống pháp lý phát sinh tại phiên toà.

Sự tham gia của luật sư trong tố tụng hình sự hay tố tụng dân sự không chỉ giúp bị can, bị cáo, người được bảo vệ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, mà còn góp phần trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án, giúp việc điều tra, truy tố và xét xử được nhanh chóng, chính xác, tránh làm oan người vô tội, để lọt tội phạm.

Luật sư giỏi tranh tụng đóng một vị trí rất quan trọng, giúp đỡ cho bị cáo, các đương sự hiểu đúng, hiểu đủ quyền và nghĩa vụ của mình trước pháp luật, tránh bị các cơ quan tiến hành tố tụng lạm quyền làm thiệt hại đến quyền và lợi ích của mình cũng như hiểu được phiên bản án quyết định của các cơ quan tố tụng tuyên đối với đương sự đã đúng pháp luật hay chưa tranh khiếu kiện, khiếu nại kéo dài làm ảnh hưởng đến thời gian kinh tế cho các bị cáo, đương sự..
Trân trọng.

Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình

Luật Sư Chuyên Tranh Tụng Hình Sự Tại Tòa

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Tranh Tụng

Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã.

Chương VII Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 có hiệu lực từ ngày 1/7 quy định cụ thể những biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế tội phạm và những trường hợp bị công an bắt để tạm giam.

Theo điều 109, để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để đảm bảo thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để đảm bảo, cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc tạm hoãn xuất cảnh.

Các trường hợp bắt người gồm: bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã; bắt bị can, bị cáo để tạm giam; bắt người bị yêu cầu dẫn độ.

Giữ người trong trường hợp khẩn cấp

Điều 110 quy định trong những trường hợp khẩn cấp sau đây, cảnh sát được giữ người: Thứ nhất, khi có đủ căn cứ để xác định một người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Thứ hai, người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn. Thứ ba, khi có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở, nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.

Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó. Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn.

Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị giữ, lý do, căn cứ giữ người.

Bắt người phạm tội quả tang

Theo quy định tại điều 111, với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan công an, viện kiểm sát hoặc ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay chơ cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Khi bắt người phạm tội quả tang, người nào cũng có quyền tước vũ khí của người bị bắt.

Trường hợp công an xã, phường, thị trấn, đồn công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người phạm tội quả tang thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu, bảo vệ hiện trường theo quy định của pháp luật, giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Bắt người đang bị truy nã

Việc bắt giữ người bị truy nã được quy định tại điều 112. Cụ thể, với người đang bị truy nã, bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan công an, viện kiểm sát hoặc ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Giống như khi bắt người phạm tội quả tang, khi bắt người đang bị truy nã, người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.

Trường hợp công an xã, phường, thị trấn, đồn công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người đang bị truy nã thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu, giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Bắt bị can, bị cáo để tạm giam

Theo điều 113, những người có quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam bao gồm: thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp, viện trưởng, phó viện trưởng viện kiểm sát nhân dân và viện trưởng, phó viện trưởng viện kiểm sát quân sự các cấp, chánh án, phó chánh án tòa án nhân dân và chánh án, phó chánh án tòa án quân sự các cấp, hội đồng xét xử.

Lệnh bắt, quyết định phê chuẩn lệnh, quyết định bắt phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị bắt, lý do bắt… Người thi hành lệnh, quyết định phải đọc lệnh, quyết định, giải thích lệnh, quyết định, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt, giao lệnh, quyết định cho người bị bắt.

Khi bắt người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người khác chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc, học tập phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến hành bắt người.

Ngoài ra, điều luật còn nêu rõ không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã.

LS TRẦN MINH HÙNG – TRƯỞNG HÃNG LUẬT GIA ĐÌNH

Thủ tục tái thẩm/giám đốc thẩm trong vụ án Dân sự

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Tranh Tụng

Thủ tục tái thẩm trong vụ án Dân sự

Điều 304 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Toà án, các đương sự không biết được khi Toà án ra bản án, quyết định đó”. Thủ tục tái thẩm cũng là một thủ tục đặc biệt của tố tụng dân sự nhằm xét lại bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp dưới đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện thấy những tình tiết mới quan trọng liên quan trực tiếp đến việc xem xét và giải quyết vụ án mà Tòa án hoặc đương sự trước đó không thể biết.

Thủ tục tái thẩm khác thủ tục giám đốc thẩm ở chỗ các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã làm hết trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án và không có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, các đương sự cũng đã xuất trình đầy đủ các chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình, nhưng sau khi vụ án đã được giải quyết và bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mới phát hiện có tình tiết mới có ý nghĩa quyết định đến việc thay đổi một cách cơ bản về nội dung của vụ án mà trước đó cả Tòa án cũng như các bên đương sự đều không thể biết được.

2. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong 4 căn cứ sau:

a) Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án. “Tình tiết quan trọng” trong căn cứ này phải là những tình tiết làm thay đổi nội dung của vụ án. Ví dụ: trong quá trình giải quyết vụ án chia di sản thừa kế các đương sự không biết được người để lại di sản thừa kế đã lập di chúc để lại toàn bộ khối di sản cho người con út, nên vụ án đã được giải quyết theo pháp luật. Mấy năm sau người con út mới phát hiện ra di chúc. Việc phát hiện ra di chúc là tình tiết mới quan trọng làm thay đổi bản chất của vụ án. Bản án nếu so với di chúc thì khác nhiều và kết luận của bản án đã làm thiệt hại đến lợi ích của thừa kế được chỉ định trong di chúc. Đây là tình tiết quan trọng để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.

b) Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo chứng cứ.

c) Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật. Cần phân biệt căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm “có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật” với căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm “…cố ý kết luận trái pháp luật”. “Sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật” và “cố ý kết luận trái pháp luật” đều là áp dụng pháp luật không đúng, nhưng căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là xuất phát từ việc nhận thức của Thẩm phán về việc áp dụng pháp luật. Thẩm phán cho rằng mình áp dụng pháp luật là đúng nhưng thực tế là không đúng. Còn căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là Thẩm phán biết rõ việc kết luận của mình là không đúng pháp luật nhưng vẫn cứ kết luận. Đây là những trường hợp hồ sơ đã đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, các tình tiết trong vụ án và pháp luật rõ ràng, nhưng Thẩm phán lại xử không đúng pháp luật.

d) Bản án, quyết định hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Toà án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước mà Toà án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị huỷ bỏ. Bộ luật tố tụng dân sự quy định, đương sự hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền phát hiện tình tiết mới của vụ án và thông báo bằng văn bản cho những người có quyền kháng nghị. Trong trường hợp phát hiện tình tiết mới của vụ án, Viện kiểm sát, Toà án phải thông báo bằng văn bản cho những người có quyền kháng nghị.

3. Người có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm Tương tự như thủ tục giám đốc thẩm, Bộ luật tố tụng dân sự chỉ giao thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm cho Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cụ thể như sau:

– Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án các cấp, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

– Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp huyện. Những người trên có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó cho đến khi có quyết định tái thẩm.

4. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là 01 năm, kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.

5. Thẩm quyền của Hội đồng tái thẩm Hội đồng tái thẩm có các quyền sau:

– Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật;

– Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại theo thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định; – Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án.

So với thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm thì Hội đồng tái thẩm không có quyền: “giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Toà án cấp dưới đã bị huỷ hoặc bị sửa”. Điều này xuất phát từ tính đặc thù của thủ tục tái thẩm là xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật do phát hiện được những tình tiết mới mà các tình tiết này có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của vụ án. Như vậy vụ án đã giải quyết chưa có những tình tiết đó, vì vậy không thể có quyết định đúng. Các quy định khác về thủ tục tái thẩm được thực hiện như các quy định về thủ tục giám đốc thẩm tại Bộ luật tố tụng dân sự.

Trân trọng.

Ảnh: Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình

 Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội.
Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hình uy tín như:  Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ Ngân hàng Navibank, Huyền Như, Viettinbank, các vụi Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái.… và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Trân trọng cảm ơn.

 

ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)
Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)
5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)
68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 028-38779958; Fax: 08-38779958
Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006
Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
 
 

Giới Thiệu Luật Sư Trần Minh Hùng

link s75  

Với phương châm đặt chữ "Tâm" của nghề lên hàng đầu, chúng tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào sự công bằng và bảo vệ công lý cho xã hội. Là hãng luật uy tín thường xuyên tư vấn luật trên HTV, VTV, THVL, ANTV, VTC, SCTV, TH Cần Thơ, Đồng Nai và trên các tờ báo uy tín... Chúng tôi chuyên tư vấn, bào chữa cho khách hàng, thân chủ trên mọi lĩnh vực đất đai, thừa kế, hình sự, doanh nghiệp, ly hôn, công nợ, lao động, hợp đồng....

 

                                   LS TRẦN MINH HÙNG 


Hotline:0972238006