|
MC dẫn |
Tiêu chí của chương trình là Đi thẳng vào vấn đề, nhằm giúp cho quý khán giả dễ dàng nhìn nhận vấn đề đang được thảo luận, từ đó, trang bị cho bản thân những kiến thức pháp luật ứng dụng trong thực tiễn đời sống hàng ngày. |
|
MC dẫn |
Kính thưa quý vị, Trái phiếu doanh nghiệp từng được kỳ vọng là kênh huy động vốn quan trọng, giúp doanh nghiệp mở rộng sản xuất, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Thế nhưng, thực tế cho thấy không ít doanh nghiệp đã phát hành trái phiếu ồ ạt, sử dụng vốn sai mục đích, công bố thông tin thiếu minh bạch, khiến niềm tin của nhà đầu tư bị lung lay. Để hiểu hơn về chủ đề toạ đàm ngày hôm nay, xin mời quý vị và các bạn theo dõi phóng sự mà chúng tôi đã thực hiện. |
|
Phát phóng sự |
Thanh tra Chính phủ vừa công khai Kết luận thanh tra số 276/KL-TTCP về việc chấp hành chính sách pháp luật về phát hành trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) riêng lẻ và sử dụng nguồn tiền từ TPDN riêng lẻ, giai đoạn 1.1.2015 đến 30.6.2023. Trong kết luận này, Thanh tra Chính phủ cho biết, việc sử dụng vốn từ phát hành trái phiếu phải theo đúng phương án phát hành đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nội dung công bố thông tin cho nhà đầu tư và theo quy định của pháp luật. Qua kiểm tra, có 3 tổ chức phát hành là Công ty cổ phần (CTCP) Năng lượng Bắc Hà, CTCP Đầu tư Hạ tầng kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh và CTCP Đầu tư Hải Phát sử dụng nguồn tiền từ phát hành TPDN không đúng mục đích phát hành. Thanh tra Chính phủ vừa công khai Kết luận thanh tra số 276/KL-TTCP về việc chấp hành chính sách pháp luật về phát hành trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) riêng lẻ và sử dụng nguồn tiền từ TPDN riêng lẻ, giai đoạn 1.1.2015 đến 30.6.2023. Cũng trong kết luận này, Thanh tra Chính phủ xác định tại ngày 30.6.2023, CTCP Signo Land nợ lãi trái phiếu là 83,929 tỉ đồng; như vậy, Công ty Signo Land chưa thực hiện đúng trách nhiệm “Thanh toán đầy đủ, đúng hạn lãi, gốc trái phiếu khi đến hạn” theo quy định tại khoản 3 Điều 34 Nghị định số 153/2020/NĐ-СР. CTCP Signo Land trong quá trình phát hành và sử dụng nguồn vốn TPDN trong mua bán căn hộ có dấu hiệu vi phạm về kê khai, nộp thuế GTGT quy định tại khoản 4 Điều 8 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31.12.2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế, người nộp thuế, căn cứ và phương pháp tính thuế, khấu trừ, hoàn thuế và nơi nộp thuế GTGT; vi phạm kê khai, tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Ngoài ra, căn cứ tài liệu và báo cáo giải trình bổ sung của CTCP Veracity và Công ty DLC thì CTCP Signo Land có dấu hiệu vi phạm về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ chào bán TPDN và thông tin công bố theo khoản 4 Điều 34 Nghị định số 153/2020/NĐ-CP. |
|
Chèn clip chuyển |
|
|
PV 1 |
Luật sư cho biết, pháp luật hiện hành đang quy định thế nào về việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ và công khai? Những điều kiện nào doanh nghiệp cần đáp ứng để được phép phát hành? Dưới góc độ pháp lý, hiện nay pháp luật Việt Nam quy định khá rõ ràng về phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ và phát hành ra công chúng, với hai khung điều kiện khác nhau. Thứ nhất, đối với trái phiếu doanh nghiệp phát hành riêng lẻ, hình thức này được điều chỉnh chủ yếu bởi Nghị định 153/2020/NĐ-CP, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 65/2022/NĐ-CP. Theo đó, doanh nghiệp được phép phát hành phải là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn hoạt động hợp pháp tại Việt Nam. Doanh nghiệp phải đáp ứng điều kiện về tình hình tài chính, cụ thể là đã thanh toán đầy đủ gốc, lãi các khoản nợ đến hạn trong ba năm liền kề trước đợt phát hành, trừ một số trường hợp đặc biệt theo quy định. Báo cáo tài chính năm gần nhất phải được kiểm toán độc lập. Quan trọng hơn, doanh nghiệp phải có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn được cấp có thẩm quyền trong nội bộ doanh nghiệp phê duyệt, trong đó nêu rõ mục đích phát hành, kế hoạch sử dụng vốn và phương án trả nợ. Trái phiếu riêng lẻ chỉ được chào bán cho nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, và doanh nghiệp có trách nhiệm công bố thông tin đầy đủ, trung thực trước, trong và sau khi phát hành, đồng thời chỉ được sử dụng vốn đúng mục đích đã công bố. Thứ hai, đối với trái phiếu phát hành ra công chúng, quy định chặt chẽ hơn rất nhiều và chịu sự điều chỉnh trực tiếp của Luật Chứng khoán 2019 và Điều 19 Nghị định 155/2020/NĐ-CP. Doanh nghiệp muốn phát hành phải đáp ứng các điều kiện cao hơn về vốn điều lệ, kết quả kinh doanh có lãi, phương án phát hành được Đại hội đồng cổ đông thông qua, đồng thời phải đăng ký chào bán với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và thực hiện chế độ công bố thông tin công khai, liên tục cho toàn thị trường. |
|
PV 2 |
Thưa Luật sư, trong kết luận thanh tra mới đây, nhiều doanh nghiệp bị nêu tên do sử dụng vốn huy động từ trái phiếu sai mục đích. Về mặt pháp lý, hành vi này vi phạm những quy định nào và có thể bị xử lý ra sao? Về mặt pháp lý, việc doanh nghiệp sử dụng vốn huy động từ trái phiếu sai mục đích là hành vi vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật về trái phiếu doanh nghiệp. Cụ thể, theo Điều 34 Nghị định 153/2020/NĐ‑CP, tổ chức phát hành trái phiếu phải sử dụng vốn đúng phương án phát hành đã được phê duyệt và công bố minh bạch thông tin tới nhà đầu tư. Nếu sử dụng vốn trái mục đích, doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ này, đồng thời có thể vi phạm nghĩa vụ kê khai, nộp thuế nếu hoạt động phát hành trái phiếu liên quan đến các giao dịch chịu thuế. Về xử lý, pháp luật quy định doanh nghiệp có thể bị: + Xử phạt hành chính, theo khoản 6 Điều 1 Nghị định 306/2025/NĐ-CP sửa đổi Điều 8 Nghị định 156/2020/NĐ-CP về vi phạm quy định về chào bán và phát hành cổ phiếu riêng lẻ, trái phiếu chuyển đổi riêng lẻ, trái phiếu kèm chứng quyền riêng lẻ của công ty đại chúng, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán. Cụ thể, phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng đối với hành vi “Sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán, phát hành riêng lẻ không đúng với phương án đã được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị công ty hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty hoặc Chủ sở hữu công ty thông qua hoặc nội dung đã công bố thông tin cho nhà đầu tư hoặc nội dung đã báo cáo cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền hoặc được cấp có thẩm quyền phê duyệt.”. Hoặc phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán trái phiếu không đúng với phương án đã được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị công ty hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty hoặc Chủ sở hữu công ty thông qua hoặc nội dung đã công bố thông tin cho nhà đầu tư hoặc được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc không đúng quy định pháp luật. Kèm theo các biện pháp khắc phục như buộc thu hồi, hoàn trả tiền cho nhà đầu tư, buộc khắc phục hậu quả, cải chính thông tin sai lệch. Trường hợp vi phạm nghiêm trọng, cơ quan quản lý còn có thể đình chỉ hoặc hủy bỏ đợt phát hành trái phiếu. + Về hình sự, nếu hành vi sử dụng vốn sai mục đích gắn với cung cấp thông tin gian dối, che giấu thông tin trong hồ sơ phát hành, hoặc chiếm đoạt tài sản của nhà đầu tư, thì không chỉ dừng lại ở xử phạt hành chính mà còn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự, như các tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Như vậy, pháp luật hiện hành vừa quy định nghĩa vụ sử dụng vốn đúng mục đích, vừa có cơ chế chế tài hành chính và hình sự, nhằm bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư và đảm bảo tính minh bạch, ổn định của thị trường trái phiếu doanh nghiệp. |
|
PV 3 |
Có ý kiến cho rằng việc công bố thông tin của doanh nghiệp phát hành còn thiếu minh bạch, khiến nhà đầu tư khó kiểm chứng dòng tiền. Pháp luật hiện nay đã có cơ chế nào buộc doanh nghiệp phải minh bạch hơn trong việc sử dụng vốn trái phiếu? Hiện nay, pháp luật Việt Nam đã có cơ chế khá đầy đủ để buộc doanh nghiệp phát hành trái phiếu phải minh bạch trong việc sử dụng vốn. Theo Luật Chứng khoán 2019, doanh nghiệp phải công bố đầy đủ, chính xác và kịp thời các thông tin liên quan đến đợt phát hành và tình hình tài chính, đồng thời chịu trách nhiệm pháp lý về tính trung thực của các thông tin này, giúp nhà đầu tư có cơ sở kiểm tra và giám sát dòng tiền. Cụ thể, Nghị định 153/2020/NĐ‑CP, được sửa đổi bởi Nghị định 65/2022/NĐ‑CP, quy định doanh nghiệp chỉ được sử dụng vốn theo đúng phương án phát hành đã công bố, thanh toán đầy đủ, đúng hạn lãi và gốc, và bảo đảm hồ sơ chào bán, thông tin công bố trung thực, đầy đủ. Doanh nghiệp còn phải có sự giám sát của tổ chức tư vấn phát hành, kiểm toán độc lập và đại diện người sở hữu trái phiếu, để kịp thời phát hiện sai phạm. Gần đây, Thông tư 76/2024/TT‑BTC siết chặt hơn: doanh nghiệp phải công bố thông tin trước phát hành, kết quả phát hành, tình hình sử dụng vốn, thanh toán lãi gốc định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm, nộp dữ liệu lên cổng thông tin trái phiếu HNX, và với trái phiếu công khai, bắt buộc có xếp hạng tín nhiệm, minh bạch tình hình tài chính và rủi ro tín dụng. Về chế tài, nếu vi phạm, doanh nghiệp có thể bị xử phạt hành chính hoặc có thể bị xử lý hình sự theo trả lời ở trên. |
|
PV 4 |
Thưa Luật sư, từ các sai phạm được chỉ ra thời gian qua, có thể thấy việc giám sát dòng tiền huy động qua kênh trái phiếu vẫn còn bất cập. Theo Luật sư, điểm ‘lỏng’ trong quy định pháp luật về giám sát và hậu kiểm hiện nay nằm ở đâu, và cần bổ sung như thế nào để tránh lặp lại sai phạm? Thực tế từ các kết luận thanh tra gần đây cho thấy cơ chế giám sát và hậu kiểm việc sử dụng vốn trái phiếu doanh nghiệp vẫn còn một số điểm “lỏng”. Cụ thể, hiện nay pháp luật chủ yếu dựa vào hồ sơ chào bán, báo cáo định kỳ, kiểm toán độc lập và đại diện người sở hữu trái phiếu để theo dõi việc sử dụng vốn. Đây là các “chốt chặn” quan trọng, nhưng trong thực tế, dòng tiền thực tế không được giám sát trực tiếp, việc xác minh các khoản sử dụng vốn vẫn mang tính trễ và gián tiếp. Do đó, doanh nghiệp vẫn có khoảng trống để sử dụng vốn sai mục đích trước khi bị phát hiện, dẫn đến rủi ro cho nhà đầu tư và thị trường. Thêm vào đó, hậu kiểm và chế tài hiện nay còn mang tính thụ động. Xử phạt hay yêu cầu khắc phục hậu quả thường chỉ diễn ra sau khi vi phạm đã xảy ra, vì vậy chưa đủ răn đe và chưa ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm. Để khắc phục, theo tôi cần bổ sung một số giải pháp. Thứ nhất, bắt buộc doanh nghiệp mở tài khoản chuyên dụng cho vốn trái phiếu, đồng thời dòng tiền từ tài khoản này phải được giám sát trực tiếp bởi đại diện người sở hữu trái phiếu và cơ quan quản lý. Thứ hai, hồ sơ chào bán trái phiếu cần minh bạch hơn, chi tiết về mục đích sử dụng vốn, ngân sách từng hạng mục và mốc thời gian thực hiện, kèm theo xác nhận của kiểm toán độc lập. Thứ ba, cần tăng cường hậu kiểm, kiểm tra định kỳ và chế tài kịp thời, không chờ đến khi vi phạm đã gây thiệt hại lớn mới xử lý. Cuối cùng, việc ứng dụng công nghệ để giám sát dòng tiền trực tuyến cũng là giải pháp quan trọng, giúp cả cơ quan quản lý và nhà đầu tư theo dõi việc sử dụng vốn một cách minh bạch, nhanh chóng. |
|
PV 5 |
Thưa Luật sư, nếu nhà đầu tư mua trái phiếu của doanh nghiệp nhưng sau đó phát hiện doanh nghiệp sử dụng sai mục đích, nhà đầu tư có thể làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình? Pháp luật có cơ chế bồi thường hay chế tài cụ thể nào không? Khi nhà đầu tư phát hiện doanh nghiệp phát hành trái phiếu sử dụng vốn không đúng mục đích, pháp luật Việt Nam hiện nay đã thiết lập các cơ chế để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư. Trước hết, nhà đầu tư có quyền yêu cầu doanh nghiệp giải trình và cung cấp đầy đủ hồ sơ, chứng từ liên quan đến việc sử dụng vốn, dựa trên nghĩa vụ công bố thông tin đầy đủ, trung thực và kịp thời theo Luật Chứng khoán 2019 và Nghị định 153/2020/NĐ-CP. Đây là cơ sở để nhà đầu tư xác minh dòng tiền và mức độ tuân thủ phương án phát hành. Nếu doanh nghiệp từ chối hợp tác hoặc vi phạm nghiêm trọng, nhà đầu tư có thể khiếu nại, tố cáo hoặc kiến nghị cơ quan quản lý chứng khoán, thanh tra, kiểm tra vào cuộc. Trong trường hợp này, cơ quan quản lý có quyền yêu cầu doanh nghiệp khắc phục hậu quả, bao gồm hoàn trả vốn sử dụng sai mục đích, điều chỉnh hồ sơ và công bố thông tin bổ sung, đồng thời áp dụng các chế tài hành chính, ví dụ như phạt tiền theo Nghị định 153/2020/NĐ-CP. Bên cạnh đó, nhà đầu tư có thể khởi kiện dân sự để yêu cầu bồi thường thiệt hại, dựa trên các khoản thiệt hại thực tế phát sinh từ việc doanh nghiệp sử dụng vốn trái phép. Trong những trường hợp vi phạm nghiêm trọng, như gian dối trong hồ sơ phát hành, chiếm đoạt vốn của nhà đầu tư, pháp luật còn có cơ chế xem xét trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017, ví dụ các tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc vi phạm quy định về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng. |
|
MC chuyển qua phóng sự |
|
|
Phát phóng sự |
Tóm tắt luật |
|
Chèn clip chuyển |
|
|
MC kết |
Kính thưa quý vị và các bạn, Thị trường trái phiếu doanh nghiệp chỉ có thể phát triển lành mạnh khi cả doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý cùng đặt tính tuân thủ pháp luật làm nền tảng. Để xem lại toàn bộ chương trình, quý vị có thể vào videophapluat.baophapluat.vn, fanpage, youtube và tiktok của Video Pháp Luật. Rất mong gặp lại quý khán giả trong những chủ đề tiếp theo. Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn Nhà tài trợ chính- Công ty Cổ phần Acecook Việt Nam đã đồng hành cùng chương trình này. Mọi ý kiến thắc mắc, liên hệ với Tọa Đàm Pháp Luật Trực Tuyến, vui lòng gửi về: - 200C Võ Văn Tần, Phường Bàn Cờ, TPHCM - ngoài ra, quý vị có thể gửi thông tin về email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. ; |
Hai người đánh bảo vệ tàu Metro sẽ bị xử lý ra sao?
(PLO)- Theo luật sư, dù thương tích của bị hại dưới 11% nhưng hành vi đánh người có tính chất côn đồ vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự nếu phía bị hại có yêu cầu khởi tố...
Công an phường Thủ Đức, TP.HCM đang phối hợp với các đơn vị liên quan lập hồ sơ, xác minh vụ nhân viên bảo vệ trên tàu Metro bị hai người hành hung sau khi nhắc nhở hành khách ngồi không đúng quy định.
Cụ thể, khoảng 17h ngày 26-10, khi tàu số 1604 đang chạy hướng từ ga Bến xe Suối Tiên đi ga Bến Thành, anh THNM, nhân viên bảo vệ đã nhắc nhở nhóm hành khách ngồi đúng quy định, giữ trật tự. Tuy nhiên, anh bị PNVB (17 tuổi) và NHTK (15 tuổi) lao vào đánh tới tấp.
Mạng xã hội cũng xuất hiện clip ghi lại vụ việc. Theo clip, B và K đã dùng tay, chân đánh người bảo vệ, trong khi nạn nhân chỉ biết ôm đầu chịu trận.
Vậy hành vi của B và K có dấu hiệu vi phạm gì không?

Luật sư Trần Minh Hùng, Đoàn Luật sư TP.HCM, cho biết Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) như sau:
Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà BLHS có quy định khác.
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều của BLHS, trong đó có Điều 134 quy định về tội cố ý gây thương tích.
Theo khoản 1 Điều 134 BLHS thì hành vi gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm nếu hành vi này gây tổn thương cơ thể cho nạn nhân từ 11% đến 30%; hoặc dưới 11% nhưng có tính chất côn đồ... (thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng).
Từ đó, LS Hùng nhận định: trong vụ việc B (17 tuổi) và K (15 tuổi) đánh nhân viên bảo vệ, B (17 tuổi) sẽ phải chịu TNHS nếu hành vi thỏa mãn cấu thành tội cố ý gây thương tích nêu trên và phía bị hại có yêu cầu khởi tố.
Đối với K (15 tuổi), theo Điều 12 BLHS, thì K chỉ bị truy cứu TNHS nếu hành vi thuộc tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng theo Điều 134 BLHS. Cụ thể, người 15 tuổi chỉ chịu TNHS khi hậu quả gây ra là làm chết người; gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên...
Như vậy, việc B và K có bị truy cứu TNHS về tội cố ý gây thương tích hay không phụ thuộc vào mức độ thương tích của nạn nhân.
Trường hợp chưa đủ căn cứ xử lý về tội này, cơ quan chức năng vẫn có thể xem xét hành vi trên có dấu hiệu gây rối trật tự công cộng hay không, bởi việc nhiều người đánh một người trên tàu Metro, nơi đông người, cũng là hành vi vi phạm cần được xử lý theo quy định.
Đáng chú ý, trong trường hợp chưa đến mức xử lý hình sự, Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi, bổ sung 2025) quy định người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ bị xử phạt khi cố ý vi phạm, còn người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt với mọi hành vi vi phạm hành chính.
Người từ 14 đến dưới 16 tuổi có hành vi vi phạm chỉ bị cảnh cáo (Điều 22 Luật Xử lý vi phạm hành chính).
Như vậy, nếu hành vi đánh người nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, B (17 tuổi) sẽ bị xử phạt theo Nghị định 144/2021, mức phạt từ 500.000 đến 1.000.000 đồng đối với hành vi đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau. Trong khi đó, K (15 tuổi) sẽ bị xử phạt cảnh cáo.
link: Nguyên nhân bảo vệ Metro số 1 bị hành khách hành hung trên tàu điện | Báo Pháp Luật TP. Hồ Chí Minh
Vụ án Ngân 98: Công ty Nanotesla có trách nhiệm thế nào?
Trong vụ án Ngân 98, nếu Công ty Nanotesla biết rõ việc sản xuất nhằm mục đích gian dối, hoặc có thỏa thuận, giúp sức trong việc sản xuất, tiêu thụ hàng giả, thì có thể bị xem là đồng phạm.
Khởi tố Ngân 98 và dấu hỏi về Công ty Nanotesla
Ngày 13.10, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.HCM (Phòng Cảnh sát Kinh tế) đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, đồng thời bắt tạm giam đối với Võ Thị Ngọc Ngân (Ngân 98) vì hành vi sản xuất và buôn bán hàng giả là thực phẩm, căn cứ theo Điều 193 Bộ luật Hình sự.
Theo điều tra, Ngân 98 là người đứng sau Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ ZuBu và hộ kinh doanh ZuBu Shop, tuy nhiên, cô không trực tiếp đứng tên pháp lý mà để người khác trong đó có mẹ ruột – làm giám đốc. Mặc dù vậy, mọi hoạt động điều hành, quản lý tài chính và kinh doanh đều do Ngân trực tiếp chỉ đạo và thu lợi.
Trên bao bì các sản phẩm giảm cân mà Ngân quảng cáo, thông tin đều ghi rõ Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ ZuBu là đơn vị chịu trách nhiệm phân phối và chất lượng sản phẩm. Địa điểm sản xuất được ghi là một nhà máy đạt chuẩn GMP tại Khu công nghiệp Đan Phượng, TP.Hà Nội.
Theo thông tin từ Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) công bố hồi tháng 6, trong số các sản phẩm gồm X1000, viên uống giảm cân X3 (Super Detox X3) và X7 Plus, chỉ duy nhất X7 Plus được cấp phép lưu hành như một thực phẩm bảo vệ sức khỏe. Sản phẩm này được Công ty ZuBu công bố và chịu trách nhiệm, do Công ty TNHH Sản xuất Dược phẩm Công nghệ cao Nanotesla sản xuất tại Điểm công nghiệp Đan Phượng, Hà Nội.
Ngân 98 bị khởi tố, bắt tạm giam
Theo dữ liệu từ Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, Nanotesla được thành lập từ tháng 7.2022, hoạt động chính trong lĩnh vực sản xuất thực phẩm chức năng và sản phẩm vi chất dinh dưỡng. Ban đầu, công ty có vốn điều lệ 9 tỉ đồng, giám đốc là ông Nguyễn Sỹ Đạt (sinh năm 1982). Chỉ sau hai tháng, chức vụ này được chuyển cho bà Nguyễn Thị Thu Hằng (sinh năm 1982).
Tới ngày 12.9.2025, công ty báo cáo tăng vốn lên 25 tỉ đồng, không công bố thông tin cổ đông góp vốn. Điều đáng chú ý là chỉ 10 ngày sau đó, vào 22.9.2025, Nanotesla bất ngờ thông báo giải thể với lý do hoạt động không hiệu quả.
Theo cơ quan điều tra, ban đầu Ngân 98 đặt hàng sản xuất tại Công ty TNHH Sản xuất Y Dược phẩm Vĩnh Điển (Hà Nội) và Công ty cổ phần Dược phẩm Pulipha (Hải Dương). Sau khi Công ty Vĩnh Điển bị phát hiện vi phạm về sử dụng chất cấm, phía Công ty ZuBu đã có văn bản gửi Cục An toàn thực phẩm để thông báo việc chuyển đổi đơn vị sản xuất sang Nanotesla.
Cơ quan điều tra xác định rằng Nanotesla thực chất cũng chính là Vĩnh Điển vì sử dụng chung nhân sự, quy trình sản xuất và cách thức giao dịch. Sau khi đổi tên, Nanotesla tiếp tục sản xuất các sản phẩm dạng hộp và dạng gói (dạng quà tặng) và cung cấp cho Ngân 98.
Toàn bộ hàng hóa sau đó được vận chuyển từ Hà Nội vào kho tại phường Cát Lái, TP.HCM, do Công ty ZuBu và hộ kinh doanh ZuBu Shop tiếp nhận. Người trực tiếp nhận, kiểm kê và nhập kho là Trần Thị Nhật Lệ, nhân viên dưới quyền của Ngân 98.
Khi nào thì Nanotesla bị liên đới trách nhiệm hình sự?
Trao đổi với phóng viên Một Thế Giới, luật sư Trần Minh Hùng, Đoàn Luật sư TP.HCM cho rằng để xác định Công ty Nanotesla có bị liên đới trách nhiệm hình sự hay không, cần làm rõ các yếu tố sau:
Thứ nhất, Công ty Nanotesla có biết rõ các sản phẩm được gia công để giao cho Ngân 98 là sản phẩm không đủ tiêu chuẩn, giả mạo thành phần, chức năng, công dụng sản phẩm hoặc không được phép lưu hành hay không?
Thứ hai, Công ty Nanotesla có cùng bàn bạc, thống nhất, hoặc hưởng lợi ích từ việc tiêu thụ sản phẩm vi phạm hay không?
Luật sư Trần Minh Hùng, Đoàn Luật sư TP.HCM
Như vậy, cơ quan điều tra chứng minh được Công ty Nanotesla biết rõ việc sản xuất nhằm mục đích gian dối, hoặc có thỏa thuận, phân công, giúp sức trong việc sản xuất, tiêu thụ hàng giả, thì Công ty Nanotesla có thể bị xem là “đồng phạm” quy định tại Điều 17 và bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả” quy định tại Điều 192 của Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2025.
Trong trường hợp doanh nghiệp chỉ thực hiện gia công đúng theo như hợp đồng, đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật, không biết hành vi gian dối của đối tác (cụ thể đây là Ngân 98), thì không bị xem là đồng phạm.
Tuy nhiên, theo ông Hùng, nếu công ty có vi phạm về quy chuẩn chất lượng, ghi nhãn mác bao bì sai, không công bố sản phẩm theo quy định, thì có thể bị xử phạt hành chính theo Điều 11 về “Hành vi buôn bán hàng giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa” của Nghị định: 98/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định: 24/2025/NDD-CP.
Hiện nay, Công ty TNHH Sản xuất Dược phẩm công nghệ cao Nanotesla ở Hà Nội – doanh nghiệp sản xuất sản phẩm giảm cân của Ngân 98 - đã giải thể. Nhiều ý kiến cũng băn khoăn việc xử lý trách nhiệm (nếu có) sẽ tiến hành ra sao?
Luật sư Trần Minh Hùng cho rằng nếu pháp nhân thương mại còn tồn tại tại thời điểm phát hiện hành vi phạm tội mà doanh nghiệp chưa giải thể thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo Điều 75 và Điều 76 Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2025.
Nếu doanh nghiệp đã giải thể hoặc bị xóa mã số thuế, thì pháp nhân không còn tư cách chủ thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, cá nhân có hành vi vi phạm như người đại diện theo pháp luật, giám đốc, người quản lý, người trực tiếp ký hợp đồng hoặc phê duyệt quy trình sản xuất có dấu hiệu phạm tội, vẫn có thể bị khởi tố cá nhân theo quy định của pháp luật hình sự.
Như vậy, theo ông Hùng, khi doanh nghiệp đã giải thể, việc xử lý trách nhiệm hình sự sẽ áp dụng đối với cá nhân nếu có hành vi vi phạm pháp luật.
Vụ án Ngân 98: Công ty Nanotesla có trách nhiệm thế nào?
Phán quyết của tòa vụ vay ngân hàng mua biệt thự: Kinh nghiệm pháp lý cho các bên liên quan
(PLO)- Theo HĐXX TAND khu vực 7 - TP.HCM, biệt thự mà phía bị đơn mua được xác định không có thật và việc công ty môi giới nhận tiền đặt cọc của khách hàng là trái luật.
Mới đây, ngày 30-9, TAND khu vực 7 - TP.HCM đã tuyên án sơ thẩm vụ tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn là một ngân hàng và bị đơn là vợ chồng ông THS.
Liên quan vụ kiện, Công ty Cổ phần N được tòa triệu tập với tư cách người có quyền, nghĩa vụ liên quan.
HĐXX đã tuyên hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn và bị đơn đều vô hiệu, bác yêu cầu khởi kiện của ngân hàng. HĐXX buộc Công ty N phải trả lại cho ngân hàng 3,65 tỉ đồng nợ gốc, buộc ngân hàng phải trả lại cho vợ chồng ông S hơn 900 triệu đồng.

Vay tiền ngân hàng mua biệt thự
Theo đơn khởi kiện, ngân hàng và vợ chồng ông S đã ký kết hợp đồng cho vay ngày 25-11-2020 với số tiền giải ngân hơn 3,6 tỉ đồng. Mục đích vay là thanh toán tiền đặt cọc để được mua biệt thự thuộc dự án tại xã Tiến Thành, Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận cũ, nay là phường Tiến Thành, tỉnh Lâm Đồng.
Tài sản thế chấp khi vay ngân hàng chính là tất cả các quyền tài sản thuộc sở hữu, sử dụng của vợ chồng ông S phát sinh từ "Văn bản thỏa thuận để được mua Biệt thự song lập..." (sau đây gọi là Văn bản thoả thuận) giữa vợ chồng ông S với công ty N.
Theo ngân hàng, từ thời điểm giải ngân đến ngày 9-5-2025, bị đơn thanh toán tổng cộng 900 triệu đồng tiền lãi. Quá trình sử dụng vốn vay, khách hàng thanh toán nợ cho Ngân hàng đến tháng 12-2022. Sau đó, khách hàng đã không tiếp tục thanh toán nợ vay cho ngân hàng như theo các hợp đồng tín dụng đã ký. Ngày 16-1-2023, tất cả các khoản vay của khách hàng tại ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn.
Dư nợ tạm tính đến ngày 30-9-2025 là hơn 5,3 tỉ đồng (nợ gốc 3,6 tỉ đồng và lãi quá hạn là 1,6 tỉ đồng).
Ngân hàng đã nhiều lần mời khách hàng làm việc, tạo điều kiện về thời gian và đề nghị thanh toán nợ vay nhưng khách hàng vẫn không trả nợ vay cho Ngân hàng.
Do đó, phía ngân hàng khởi kiện vợ chồng ông S để yêu cầu thanh toán các khoản nợ.
Phía bị đơn trình bày, thống nhất với phần trình bày của ngân hàng về việc các bên ký kết hợp đồng tín dụng và khoản tiền ông bà nợ ngân hàng. Bị đơn có nguyện vọng mong muốn ngân hàng xem xét và cắt giảm lãi cũng như lãi quá hạn để ông bà có thời gian trả nợ cho ngân hàng.
Ngân hàng gửi đơn kháng cáo
Sau phiên sơ thẩm, phía ngân hàng cho biết đã có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm gửi đến TAND khu vực 7 - TP.HCM.
Một trong những lý do được phía ngân hàng nêu đó là: Nguyên đơn không tranh chấp về pháp lý của Văn bản thỏa thuận, phía bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng không có yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập. Do đó, ngân hàng cho rằng việc tòa quyết định tính pháp lý và các nội dung của Văn bản thỏa thuận để giải quyết vụ án là vượt quá yêu cầu khởi kiện làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ngân hàng.
Nhận định của HĐXX tuyên hợp đồng vô hiệu
HĐXX nhận định, Công ty N nhân danh chủ đầu tư dự án ký hợp đồng là đơn vị tư vấn, môi giới độc quyền sản phẩm bất động sản thuộc dự án. Do đó, công ty này chỉ được hưởng thù lao môi giới bất động sản từ chủ đầu tư và hoa hồng khi chủ đầu tư ký được hợp đồng mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua bất động sản. Đây là giới hạn mà nhà làm luật quy định cho các doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản, theo Luật kinh doanh bất động sản 2014 (thời điểm ký thỏa thuận).
Tuy nhiên, Điều 3 của Văn bản thoả thuận lại có quy định về tiền đặt cọc, tiến độ, thời hạn đặt cọc, phương thức nộp tiền đặt cọc, xử lý tiền đặt cọc.
"Nội dung thoả thuận này là trái quy định của pháp luật. Bởi Công ty N chỉ là đơn vị môi giới bất động sản do đó không có quyền nhận tiền đặt cọc từ khách hàng, phạm vi hoạt động là môi giới cho người có nhu cầu mua bất động sản để chủ đầu tư và người mua giao kết hợp đồng", HĐXX nhận định.
Bên cạnh đó, tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 9-8-2024 ghi nhận hiện trạng thực tế tài sản hình thành trong tương lai có nội dung: "Ngân hàng không chỉ được vị trí khu đất, do đó không có cơ sở để xem xét thẩm định tại chỗ. Theo hướng dẫn của cán bộ UBND xã Tiến Thành đề nghị toà án làm văn bản hỏi chủ đầu tư để xác định vị trí cụ thể của thửa đất và làm văn bản hỏi UBND xã Tiến Thành về việc khu đất đã được xây dựng hay chưa, từ đó có cơ sở để phúc đáp toà án".
Ngày 27-9-2024, toà án nhận được văn bản trả lời của UBND xã Tiến Thành rằng phía chủ đầu tư chưa chuyển giao quyền quản lý cho địa phương, do đó nội dung yêu cầu không thuộc thẩm quyền của UBND xã.
Trong các tài liệu do ngân hàng cung cấp, không có bất kỳ tài liệu, biên bản, chứng cứ thể hiện bất động sản được nêu trong Văn bản thỏa thuận đã được xây xong phần móng.
Từ những phân tích ở trên, HĐXX nhận thấy trong hồ sơ vụ án không có tài liệu thể hiện bất động sản hình thành trong tương lai là biệt thự mà khách hàng muốn mua đã được xây xong phần móng. Do đó, chủ đầu tư bị nghiêm cấm uỷ quyền cho Công ty N ký hợp đồng đặt cọc các giao dịch về nhà ở. Việc Công ty N nhận tiền đặt cọc của khách hàng là vi phạm pháp luật, có dấu hiệu của tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Từ đó, HĐXX nhận định Văn bản thỏa thuận là vô hiệu theo quy định tại Điều 117, 123 BLDS.
Về hợp đồng tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng, sau khi các bên ký kết hợp đồng tín dụng thì số tiền giải ngân được ngân hàng chuyển thẳng vào Công ty N.
Trong khi đó theo quy định tại khoản 2 Điều 8 của Thông tư 39/2016 của Ngân hàng Nhà nước thì những nhu cầu vốn không được cho vay bao gồm trường hợp vay để thanh toán các chi phí, đáp ứng các nhu cầu tài chính của các giao dịch, hành vi mà pháp luật cấm.
Thế nên, hành vi Công ty N nhận tiền đặt cọc từ khách hàng bị nghiêm cấm. Tài sản hình thành trong tương lai không có thật.
Do đó, hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và vợ chồng ông S bị vô hiệu, HĐXX không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Do bị đơn không có yêu cầu phản tố. HĐXX chỉ giải quyết vụ án trong phạm vi khởi kiện của nguyên đơn. Dành nội dung giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu cho vợ chồng ông S khởi kiện ở một vụ án dân sự khác.
Phán quyết của tòa đã bảo vệ người tiêu dùng
Bản chất vụ việc này là chủ đầu tư bán tài sản khi chưa đủ điều kiện pháp luật cho phép. Khách hàng mua nhà vay vốn để cho Công ty N sử dụng. Khi rủi ro xảy ra, khách hàng bị khởi kiện đòi nợ.
Một điểm đáng chú ý trong vụ án này, HĐXX đã dẫn khoản 2 Điều 8 Thông tư 39/2016 của Ngân hàng Nhà nước, quy định rằng: tổ chức tín dụng “không được cho vay để thanh toán các chi phí, đáp ứng các nhu cầu tài chính của các giao dịch, hành vi mà pháp luật cấm”.
Việc Tòa tuyên bố hợp đồng tín dụng vô hiệu là hệ quả tất yếu. Phán quyết của tòa trong vụ án này đã bảo vệ người tiêu dùng và khẳng định nguyên tắc thượng tôn pháp luật.
Theo quy định, tiền đặt cọc chỉ được giữ, không được xài và tiền đặt cọc đó cũng là tài bảo đảm cho khoản vay của khách hàng. Ngân hàng xem đó là tài sản bảo đảm do Công ty N giữ tài sản để bảo đảm cho hợp đồng vay, trong đó có chính phần tiền ngân hàng giải ngân.
Khi người dân hoặc các bên vi phạm hợp tín dụng, ngân hàng có thể xử lý tài bảo đảm trước, phải liên hệ Công ty N lấy lại tài sản đang giữ. Trong trường hợp ngân hàng thu hồi nợ thì ngân hàng thu hồi số tiền đó, mà theo BLDS thì ngân hàng phải thực hiện. Tuy nhiên, ngân hàng lại đi kiện người dân buộc dân trả tiền là không đúng.
Luật sư HUỲNH VĂN NÔNG, Đoàn Luật sư TP.HCM
***
Kinh nghiệm pháp lý "xương máu" cho các bên
Bản án sơ thẩm nêu trên là lời cảnh báo về mối quan hệ giữa chủ đầu tư – công ty môi giới – ngân hàng trong các giao dịch bất động sản hình thành trong tương lai. Trong vụ án, tòa án xác định Hợp đồng vay tín dụng giữa ông S và ngân hàng vô hiệu do vi phạm điều cấm pháp luật, căn cứ khoản 2 Điều 8 Thông tư 39/2016/TT-NHNN.
Nguyên nhân là việc vợ chồng ông S ký "Văn bản thỏa thuận"; đặt cọc với một doanh nghiệp không phải chủ đầu tư dự án. Doanh nghiệp này không có quyền nhận cọc, dẫn đến toàn bộ giao dịch tài chính liên quan (bao gồm cả khoản vay ngân hàng) bị tuyên vô hiệu. Phán quyết của HĐXX thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ người tiêu dùng trong các quan hệ dân sự.
Trong vụ án này có 1 chi tiết cần lưu ý là phía nguyên đơn và cả bị đơn đều không yêu cầu xem xét Văn bản thỏa thuận. Tuy nhiên, ngân hàng nhận thế chấp tài sản là quyền của vợ chồng ông S phát sinh từ thỏa thuận này. Do đó, có thể cứ vào giải đáp của TAND Tối cao tại mục 7 phần III Công văn 196/TANDTC-PC để tòa xem xét.
Cụ thể, vấn đề đặt ra là: Trong vụ án tranh chấp Hợp đồng tín dụng, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bên vay trả nợ theo hợp đồng tín dụng, nếu bên vay không trả nợ sẽ yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Các đương sự không yêu cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu. Trường hợp xét thấy hợp đồng thế chấp vô hiệu thì Tòa án có quyền tuyên Hợp đồng thế chấp đó vô hiệu không?
TAND Tối cao đã giải đáp như sau: Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, bên vay thế chấp tài sản để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ nếu bên vay không trả nợ. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án phải xem xét hiệu lực của hợp đồng thế chấp tài sản này. Nếu hợp đồng thế chấp tài sản tuân thủ đúng quy định pháp luật thì Tòa án phải công nhận hợp đồng thế chấp tài sản có hiệu lực và xử tài sản thế chấp theo quy định pháp luật; nếu hợp đồng thế chấp tài sản vi phạm các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo quy định pháp luật thì Tòa án phải tuyên bố hợp đồng thế chấp tài sản vô hiệu mà không phụ thuộc vào việc đương sự có yêu cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu hay không.
Qua vụ việc này, chúng ta cũng thấy một điều: người mua nhà chỉ được phép đặt cọc trực tiếp cho chủ đầu tư hoặc đơn vị được ủy quyền hợp pháp, có công chứng. Bất kỳ thỏa thuận đặt cọc nào với công ty môi giới thiếu thẩm quyền đều tiềm ẩn rủi ro mất tiền, không được pháp luật bảo vệ.
Người dân cũng cần phải tìm hiểu rõ về pháp lý dự án có được chấp thuận hay không; kiểm tra kỹ nội dung hợp đồng về thông tin dự án, phương thức thanh toán, thời gian bàn giao và điều khoản vi phạm hợp đồng. Nếu có thể, hãy tìm luật sư tư vấn để tránh rủi ro pháp lý về sau.
Ông BIỆN MINH MẪN
***
Một phán quyết công tâm và khách quan
Tôi hoàn toàn đồng tình với phán quyết của tòa án cấp sơ thẩm, bởi qua quá trình hành nghề đã được tiếp xúc hồ sơ tương tự của dự án thì việc tòa án ra phán quyết vậy là hoàn toàn phù hợp thực tế, dựa trên chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tôi cho rằng đây là một phán quyết thuyết phục, khách quan, công tâm.
Tất nhiên, đây mới chỉ là phán quyết của tòa cấp sơ thẩm, có thể các bên còn kháng cáo…nên chúng ta cần tiếp tục chờ một phán quyết của tòa cấp phúc thẩm. Tuy nhiên, tôi vẫn tin và chờ đợi dù phán quyết cấp nào thì vẫn luôn dựa trên pháp luật, thấu tình đạt lý, bảo vệ quyền lợi các bên theo định pháp luật.
Cũng từ vụ việc này, tôi cho rằng trước khi ký bất kỳ văn bản, thỏa thuận nào với chủ đầu tư hay công ty môi giới thì cần tìm hiểu kỹ về dự án, tính pháp lý, tìm hiểu tại chính cơ quan nhà nước nơi dự án đó đang thực hiện, tìm hiểu qua báo chí, phương tiện thông tin đại chúng, tìm hiểu năng lực, uy tín của chủ đầu tư, tìm hiểu kỹ hồ sơ pháp lý dự án và phải lường được tài chính của mình. Tránh trường hợp dự án đắp "chiếu", không thấy tài sản đâu mà vướng vào nợ xấu.
Luật sư TRẦN MINH HÙNG, Đoàn Luật sư TP.HCM
Nguồn: Báo pháp luật tphcm
Thương mại điện tử và kinh doanh qua mạng: Nhiều “lỗ hổng” cần sớm được bịt kín
Trong bối cảnh công nghệ số bùng nổ, đặc biệt sau dịch COVID-19, thương mại điện tử (TMĐT) và kinh doanh qua mạng xã hội đã trở thành xu hướng chủ đạo. Từ Facebook, TikTok, Zalo đến Shopee, Lazada…, hàng triệu giao dịch được thực hiện mỗi ngày, góp phần thay đổi diện mạo tiêu dùng và thương mại. Tuy nhiên, sự phát triển nóng này cũng kéo theo không ít bất cập về pháp lý, thuế và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng - những “lỗ hổng” cần sớm được lấp đầy.
6 tháng năm 2025: Thu thuế từ kinh doanh thương mại điện tử đạt 98.000 tỉ đồng
Pháp lý rõ ràng - nền tảng cho thị trường thương mại điện tử minh bạch
Từ phản ánh của Báo Bảo vệ pháp luật: UBND tỉnh An Giang chỉ đạo xử lý Shop Trần Ngọc Hằng
Hành lang pháp lý vẫn còn nhiều khoảng trống
Theo Luật sư Trần Minh Hùng (Đoàn Luật sư TP Hồ Chí Minh), hệ thống pháp luật về TMĐT đã được hình thành với nhiều văn bản quan trọng như Luật Thương mại 2005, Luật Giao dịch điện tử 2023, Luật Quản lý thuế 2019 và Nghị định 52/2013/NĐ-CP (sửa đổi năm 2021). Tuy vậy, thực tiễn vẫn cho thấy nhiều “khoảng trống” lớn: Chưa kiểm soát hiệu quả hoạt động bán hàng cá nhân qua mạng xã hội.
Giao dịch xuyên biên giới khó quản lý, nhất là hàng lậu, hàng giá rẻ; Sự phối hợp giữa các cơ quan thuế – công thương – Công an còn chồng chéo, thiếu đồng bộ; Nhiều sàn TMĐT chưa định danh, xác thực điện tử với người bán, đặc biệt là các tổ chức, cá nhân nước ngoài.
![]() |
| Luật sư Trần Minh Hùng - Đoàn Luật sư TP Hồ Chí Minh trao đổi với phóng viên. |
Những bất cập này khiến thị trường TMĐT tăng trưởng nhanh nhưng chưa bền vững, tiềm ẩn nhiều rủi ro cho cả Nhà nước, doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng.
Luật Quản lý thuế 2019 (sửa đổi 2024) quy định rõ: mọi cá nhân kinh doanh trên nền tảng TMĐT phải đăng ký, kê khai và nộp thuế; đồng thời, các sàn TMĐT phải khấu trừ và nộp thuế thay cho người bán. Tuy nhiên, triển khai vào thực tế lại gặp vô vàn khó khăn: Người bán nhỏ lẻ chưa đăng ký kinh doanh, dẫn đến khó quản lý; Thanh toán chủ yếu qua tiền mặt hoặc ví điện tử, thiếu hóa đơn, khó truy vết dòng tiền; Cơ quan thuế thiếu dữ liệu tập trung từ các nền tảng mạng xã hội xuyên biên giới.
Thực tế, chỉ một tỷ lệ nhỏ trong hàng trăm nghìn tài khoản bán hàng online thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế. Nhiều buổi livestream có doanh thu hàng tỉ đồng nhưng không xuất hóa đơn, gây nguy cơ thất thu ngân sách rất lớn.
Trách nhiệm của sàn TMĐT và mạng xã hội
Theo quy định, các sàn TMĐT phải lưu giữ thông tin người bán, cung cấp dữ liệu cho cơ quan thuế, đồng thời giải quyết khiếu nại của người tiêu dùng. Tuy nhiên, các nền tảng quốc tế như Facebook, TikTok, Amazon lại chưa đặt máy chủ tại Việt Nam, khiến việc yêu cầu chia sẻ dữ liệu gặp nhiều hạn chế.
Trong khi đó, nhiều sàn trong nước vẫn chưa thực hiện nghiêm túc khâu xác thực, quản lý gian hàng, khiến tình trạng hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng tràn lan.
Kinh doanh qua mạng không đăng ký, trốn thuế gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng:
Ngân sách: thất thu hàng nghìn tỉ đồng thuế mỗi năm.
Môi trường kinh doanh: tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh giữa doanh nghiệp tuân thủ và người bán “chui”.
Xã hội: hàng giả, hàng kém chất lượng tràn lan, trong khi người tiêu dùng dễ gặp rủi ro do thiếu chứng từ hợp pháp để khiếu nại, đòi bồi thường.
![]() |
| Cơ quan chức năng tỉnh An Giang kiểm tra, xử lý một hộ kinh doanh. |
Bảo vệ người tiêu dùng vẫn còn “yếu”
Người tiêu dùng khi mua hàng online thường không có hóa đơn, chứng từ rõ ràng. Khi xảy ra tranh chấp, việc khiếu nại hoặc đòi quyền lợi rất khó khăn. Một số sàn lớn có chính sách đổi trả, bảo hiểm hàng hóa, nhưng chưa đủ sức ngăn chặn triệt để hàng kém chất lượng.
Để khắc phục, Luật sư Trần Minh Hùng cho rằng cần: Ban hành Luật Thương mại điện tử (sửa đổi), quy định rõ trách nhiệm của các nền tảng mạng xã hội; Bổ sung chế tài xử phạt mạnh mẽ với hành vi trốn thuế online; Thực thi nghiêm Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023; Ứng dụng công nghệ số, AI, Big Data trong quản lý thuế, giám sát dòng tiền.
Đặc biệt, Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2025) quy định: hành vi trốn thuế từ 100 triệu đồng trở lên có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc xử lý hình sự các trường hợp trốn thuế lớn trên TMĐT không chỉ là yêu cầu pháp lý, mà còn là biện pháp răn đe, bảo đảm công bằng.
TMĐT là xu thế tất yếu, góp phần thúc đẩy tiêu dùng và phát triển kinh tế số. Song, nếu không có giải pháp quản lý chặt chẽ, những “lỗ hổng” pháp lý, thuế và kiểm soát hàng hóa sẽ tiếp tục gây thất thoát ngân sách, ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh và quyền lợi của hàng triệu người tiêu dùng.
Đã đến lúc cơ quan chức năng, doanh nghiệp và chính người kinh doanh online phải cùng chung tay xây dựng một thị trường TMĐT minh bạch, an toàn và bền vững - nơi lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân đều được bảo đảm.
Cận kề sinh tử: Đừng vì hiểu lầm mà bỏ lỡ sự che chở của bảo hiểm nhân thọ
và 1 tác giả khác
'Từng nghĩ bảo hiểm nhân thọ là thứ không cần thiết, đến khi bất ngờ nhập viện cấp cứu, tôi mới thấy: Nếu không có bảo hiểm, mình sẽ đơn độc và bị động giữa lúc nguy cấp'.
Talk show "Những câu chuyện phía sau hợp đồng" do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam phối hợp tổ chức - Ảnh: HỮU HẠNH
Đó là chia sẻ của đạo diễn Nguyễn Quang Dũng tại Talk show "Những câu chuyện phía sau hợp đồng" diễn ra tại tòa soạn báo Tuổi Trẻ. Chương trình còn có sự tham gia của đại diện Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, luật sư và tư vấn viên bảo hiểm.
Từ nghi ngại đến tin tưởng: Bảo hiểm nhân thọ là sự chuẩn bị tử tế cho mình và gia đình
Mặc bộ đồ năng động, gương mặt rạng rỡ, đạo diễn Nguyễn Quang Dũng tâm sự chỉ vài tháng trước bản thân vừa trải qua lằn ranh sinh tử, khi cơn nhồi máu cơ tim ập đến.
Một buổi sáng, ông cảm thấy tức ngực nhẹ, nghĩ do làm việc căng thẳng và uống cà phê nhiều chứ không sao. Đúng lúc đó, người tư vấn viên bảo hiểm đã nhắc ông đi khám sức khỏe định kỳ. “May là tôi đồng ý đi khám", ông Dũng nhớ lại.
Xem kết quả, bác sĩ yêu cầu ông nhập viện cấp cứu ngay vì men tim tăng cao, dấu hiệu cho thấy nguy cơ nhồi máu cơ tim do tắc nghẽn động mạch vành.
Từ dấu hiệu mơ hồ, bệnh tình đột ngột chuyển sang nghiêm trọng. “Tôi thường khám định kỳ và cảm thấy cơ thể ổn, vậy mà bệnh có thể đến rất nhanh, rất bất ngờ. Không nên chủ quan”, đạo diễn Nguyễn Quang Dũng chia sẻ. Toàn bộ chi phí của ca bệnh đã được bảo hiểm nhân thọ chi trả với số tiền khá lớn.
Giống nhiều người khác, ông cho biết từng có tâm lý e ngại và xem nhẹ bảo hiểm nhân thọ, nhất là khi còn trẻ và khỏe mạnh.
Tuy nhiên, khi tìm hiểu kĩ, ông dần tin tưởng và tham gia hơn 10 năm nay. Được chăm sóc và bồi thường chu đáo nhờ bảo hiểm nhân thọ, ông càng cảm thấy quyết định tham gia là đúng đắn.
Sau sự cố sức khỏe, ông mua thêm gói bảo hiểm bệnh hiểm nghèo, với niềm tin rằng phòng bệnh hơn chữa bệnh.
"Tôi thường khuyên các bạn trong đoàn phim nên tham gia bảo hiểm, quan trọng là phải hiểu đúng về nó. Đừng xem bảo hiểm như một điều xa lạ, hãy coi đó là sự chuẩn bị tử tế cho mình và gia đình", ông Dũng nói.
Không vì hiểu lầm mà tước đi cơ hội được bảo vệ
Theo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (IAV), nửa đầu năm 2025, tổng chi trả quyền lợi bảo hiểm nhân thọ đạt gần 27.500 tỉ đồng, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước, thể hiện vai trò ngày càng quan trọng trong việc đảm bảo an sinh xã hội, hỗ trợ kịp thời hàng ngàn gia đình lúc nguy nan.
Tuy nhiên, thị trường này cũng đối mặt với một số vấn đề liên quan đến quảng cáo sai lệch, tư vấn thiếu minh bạch và tranh chấp khi chi trả quyền lợi bảo hiểm.
Luật sư Trần Minh Hùng (Đoàn luật sư TP.HCM) cho biết trên thị trường có rất nhiều đại lý bảo hiểm nhân thọ làm nghề chuyên nghiệp, am hiểu pháp luật và tư vấn tận tâm, tạo được niềm tin và lan tỏa giá trị nhân văn với khách hàng.
Tuy nhiên, cần thẳng thắn rằng cũng có không ít người tư vấn thiếu chính xác hoặc quá chú trọng đến hoa hồng. Bản thân khách hàng cũng ký hợp đồng xong rồi cất vào tủ, không đọc. Theo kinh nghiệm, phần lớn tranh chấp phát sinh từ những hiểu lầm ban đầu giữa khách hàng và bên tư vấn. Tuy vậy, luật sư Hùng cũng cho rằng đừng vì những hiểu lầm không đáng có mà tự tước đi cơ hội được tham gia, được bảo hiểm nhân thọ che chở.
Luật sư Trần Minh Hùng (Đoàn luật sư TP.HCM):
Khách hàng nên lựa chọn đại lý có kinh nghiệm, uy tín, đồng thời chủ động ghi âm và lưu lại các tin nhắn trao đổi trong quá trình tư vấn để tự bảo vệ quyền lợi của mình.
Bà Hồ Thị Thúy Quỳnh - tư vấn viên bảo hiểm cho rằng nghề đại lý bảo hiểm cũng có điểm tương đồng nhất định với nghề giáo viên, vừa cần chuyên môn sâu vừa phải truyền đạt dễ hiểu.
Để làm nghề chuyên nghiệp, cần tìm hiểu nhu cầu và khả năng tài chính khách hàng để thiết kế giải pháp phù hợp, sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, xây dựng niềm tin và quan hệ lâu dài với khách hàng. Không quên liên tục cập nhật kiến thức về sản phẩm, y khoa, chăm sóc sức khỏe…
Nỗ lực nâng cao trải nghiệm khách hàng
Ông Ngô Trung Dũng - phó tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam cho biết theo chiến lược của Chính phủ, mục tiêu đến năm 2030 tỉ lệ tham gia bảo hiểm nhân thọ đạt 18% dân số, trong khi hiện mới khoảng 11%, đòi hỏi nhiều nỗ lực để phát triển thị trường và giảm gánh nặng an sinh xã hội.
Để củng cố niềm tin, Chính phủ ban hành Nghị định 46 và Thông tư 67 với nhiều quy định mới, tăng minh bạch và bảo vệ quyền lợi khách hàng. . Lưu ý, nếu hợp đồng có điều khoản không rõ ràng, pháp luật sẽ đứng về phía người mua.
Từ 1-7 vừa qua, sản phẩm bảo hiểm nhân thọ cũng được tách thành hai phần cơ bản: sản phẩm chính (tử vong, thương tật vĩnh viễn) và sản phẩm bổ trợ (bệnh hiểm nghèo, tai nạn…), giúp khách hàng dễ lựa chọn, buộc đại lý tư vấn rõ ràng hơn, những người yếu kém có thể bị loại khỏi nghề.
Ông Dũng cho hay các doanh nghiệp cũng rất nỗ lực trong việc cải tiến quy trình, ứng dụng công nghệ và tăng cường tương tác để nâng cao trải nghiệm khách hàng. Hành động này không chỉ góp phần giúp doanh thu phục hồi mà còn thể hiện cam kết và củng cố niềm tin dài hạn.
"Khuôn khổ pháp luật về bảo hiểm nhân thọ hiện khá toàn diện và minh bạch, nhưng vấn đề nằm ở khâu thực thi. Đây là ngành kinh doanh có điều kiện, chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước. Dù còn một số bất cập, không thể phủ nhận bảo hiểm nhân thọ đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho người dân, đặc biệt trong những lúc nguy cấp", ông Dũng nhấn mạnh.
Tọa đàm "Những câu chuyện phía sau hợp đồng bảo hiểm" đang được diễn ra vào hôm nay 7-8, tại tòa soạn báo Tuổi Trẻ, thu hút nhiều chuyên gia cùng khách hàng và người thân tham gia bảo hiểm nhân thọ.
Xôn xao việc chung cư ở TPHCM 'cấm cửa' xe điện
TPO - Việc Ban Quản lý một chung cư ở TPHCM bất ngờ ra thông báo không tiếp nhận giữ xe điện trong tầng hầm gửi xe đã khiến nhiều người dân bất ngờ, lo lắng. Thông tin trên nhanh chóng được lan truyền trên mạng xã hội, tạo ra nhiều ý kiến trái chiều.
Những ngày qua, dư luận xã hội xôn xao trước việc Ban Quản lý chung cư Tân Phước (TPHCM) bất ngờ ra thông báo không nhận giữ xe điện trong tầng hầm chung cư với lý do lo ngại về an toàn phòng cháy chữa cháy.
Cụ thể: Thông báo ngày 23/7 của Ban quản lý chung cư này nêu rõ: Kể từ thời điểm ban hành thông báo, toàn bộ phương tiện sử dụng điện (bao gồm ô tô điện, xe máy điện, xe đạp điện) sẽ không được gửi tại khu vực hầm xe". Thông báo của Ban Quản lý chung cư cho rằng, các loại xe điện tiềm ẩn nguy cơ cháy nổ do đặc thù của hệ thống pin, ắc quy, cũng như việc sạc điện không đúng quy định.
Đơn vị này cho biết sẽ kiểm tra và xử lý nếu phát hiện có xe điện trong hầm.
Thông báo của Ban Quản lý chung cư Tân Phước nhanh chóng được lan truyền trên mạng xã hội và dấy lên nhiều tranh luận về việc xe điện bị "cấm cửa".

Luật sư Trần Minh Hùng - Trưởng Văn phòng luật sư Gia Đình - Đoàn luật sư TPHCM - cho biết, tính đến thời điểm hiện tại, không có bất kỳ văn bản pháp luật nào cấm người dân sử dụng hoặc gửi xe điện tại chung cư. Các loại phương tiện như xe đạp điện, xe máy điện (có đăng ký) hoàn toàn được phép lưu hành. Thông tin trên mạng xã hội lan truyền hình ảnh về việc chung cư không nhận giữ xe điện có dấu hiệu vượt quá thẩm quyền và trái với quy định tại Luật Nhà ở.
“Trong bối cảnh cả nước đang chuyển đổi giao thông xanh với mục tiêu net zero (phát thải ròng bằng 0) thì thông tin cấm gửi xe điện ở chung cư sẽ gây tác động tiêu cực đến chính sách chung.
Những thông tin này cần được làm rõ, xử lý kịp thời và thấu đáo, nếu không sẽ tạo ra tiền lệ xấu, khiến người dân hoang mang và giảm niềm tin vào cam kết chuyển đổi xanh của Nhà nước, đồng thời làm suy giảm hiệu quả của các chương trình khuyến khích phương tiện xanh mà Chính phủ và TPHCM đang triển khai”- luật sư Hùng phân tích.

Theo vị luật sư, nếu viện dẫn lý do an toàn phòng cháy chữa cháy thì trách nhiệm thuộc về chính Ban Quản lý và chủ đầu tư các chung cư trong việc đảm bảo hạ tầng phòng cháy chữa cháy (PCCC) đạt chuẩn và không thể đẩy trách nhiệm bằng cách cấm đoán cư dân gửi xe.
Luật sư Trần Minh Hùng cho biết, cơ quan quản lý nhà ở của Sở Xây dựng và chính quyền địa phương cần kịp thời kiểm tra, yêu cầu hủy bỏ thông báo có dấu hiệu trái luật và chấn chỉnh công tác quản lý vận hành chung cư. Cơ quan chức năng cũng nên có hướng dẫn cụ thể về việc bố trí, quản lý xe điện trong chung cư theo quy chuẩn an toàn để tránh tình trạng các ban quản lý tự đặt ra quy định tùy tiện, gây cản trở chính sách chung.
“Ban Quản lý chung cư có thể áp dụng các giải pháp hợp lý, như: Không cho phép sạc pin xe điện tại khu vực hầm để xe, chỉ sạc ở các vị trí được bố trí hệ thống PCCC đạt chuẩn, hoặc chỉ chấp nhận sạc xe điện có pin đạt chứng nhận chất lượng; bố trí khu vực giữ xe riêng với hệ thống PCCC đúng quy chuẩn, phối hợp cơ quan chức năng tuyên truyền nâng cao nhận thức cư dân. Trường hợp cơ sở hạ tầng chưa đủ điều kiện, có thể tạm giới hạn số lượng xe điện gửi hầm và lập kế hoạch nâng cấp kỹ thuật” - luật sư Trần Minh Hùng nêu ý kiến.
Chiều nay (28/7), thông tin với PV, đại diện Ban Quản lý chung cư Tân Phước xác nhận việc ban hành thông báo kể trên. Tuy nhiên, theo vị này thông tin "cấm xe điện" ở chung cư đang lan truyền trên không gian mạng là chưa chuẩn xác. Cụ thể, cách đây vài tháng, Ban Quản lý - Ban Quản trị chung cư đã lấy ý kiến về việc không giữ xe điện ở tầng hầm và nhận được đa số ý kiến đồng thuận từ cư dân.
“Chúng tôi sẽ bố trí điểm đỗ xe điện bên ngoài hầm (thuộc khuôn viên chung cư) cho cư dân có xe điện. Đây là giải pháp trước mắt. Về lâu dài, sau khi có giải pháp an toàn khi đỗ xe điện tại hầm chung cư, chúng tôi sẽ tính toán lại” - đại diện Ban Quản lý chung cư thông tin.
Nguồn: https://tienphong.vn/xon-xao-viec-chung-cu-o-tphcm-cam-cua-xe-dien-post1764266.tpo
Mở công ty TNHH khi nào được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 3 năm đầu?
Mở công ty TNHH khi nào được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 3 năm đầu?
Tôi mới thành lập công ty TNHH có vốn điều lệ 1,5 tỉ, có ba nhân viên. Công ty tôi có được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong ba năm đầu thành lập không? (Một bạn đọc hỏi).
Luật sư TRẦN MNH HÙNG (Đoàn luật sư TP.HCM) trả lời về quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:
- Theo khoản 4 điều 10 của nghị quyết số: 198/2025/QH15 ngày 17-5-2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân:
"Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong ba năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu".
Điều kiện để được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong ba năm đầu thành lập theo chủ trương tại nghị quyết 68-NQ/TW và các quy định pháp luật hiện hành, doanh nghiệp cần đáp ứng điều kiện là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Điều 5 nghị định 80/2021/NĐ-CP quy định chi tiết tiêu chí xác định các loại doanh nghiệp vừa và nhỏ để được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong ba năm đầu thành lập gồm: "... Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỉ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỉ đồng...".
Theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017, tại điều 4. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa:
1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây:
a) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỉ đồng;
b) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỉ đồng.
2. Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ.
Như vậy, nếu doanh nghiệp thuộc lĩnh vực thương mại, hoạt động theo hình thức công ty TNHH, sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỉ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỉ đồng thì sẽ đủ điều kiện được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong ba năm đầu thành lập (kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu).
Mời bạn đọc gửi câu hỏi để được luật sư tư vấn
Đăng ký Tuổi Trẻ Sao TẠI ĐÂY
Với đội ngũ các luật sư và chuyên gia pháp lý dày dạn kinh nghiệm trên tất cả các lĩnh vực như hôn nhân - gia đình, kinh doanh - thương mại, mua bán đất đai, sở hữu trí tuệ, lao động, hộ tịch, thừa kế..., chuyên mục Tư vấn pháp luật trên Tuổi Trẻ Sao sẽ giải đáp thắc mắc của bạn một cách nhiệt tình, nhanh chóng, chính xác, hiệu quả.
Bạn đọc vui lòng gửi câu hỏi (gõ bằng tiếng Việt có dấu, font chữ UNICODE) về Tuổi Trẻ Sao qua địa chỉ This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. .
Định cư ở nước ngoài theo diện kết hôn, muốn rút bảo hiểm xã hội 1 lần được không?
Tôi đã có visa F1 theo diện hôn phu bảo lãnh, nay tôi muốn rút một lần bảo hiểm xã hội đã đóng được 9 năm. Hiện tôi mới nghỉ việc được 1 tháng để chờ xuất cảnh.
Trường hợp của tôi có được chấp nhận không, nếu có thì thủ tục gồm những gì và thời gian cần ở lại Việt Nam để xử lý là bao lâu?
Một bạn đọc hỏi.
- Luật sư Trần Minh Hùng (Đoàn luật sư TP.HCM) tư vấn:
Luật sư Trần Minh Hùng
Căn cứ pháp lý:
+ Điều 106 Luật Bảo hiểm xã hội 2024: Hồ sơ đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội một lần.
+ Điểm b Khoản 1 Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội 2024: Hưởng bảo hiểm xã hội một lần để ra nước ngoài định cư.
Theo Điều 106 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì có thể xin rút bảo hiểm xã hội một lần với lý do đi nước ngoài định cư, căn cứ tại "Điểm b Khoản 1 Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội 2024". Nộp hồ sơ tại cơ quan bảo hiểm xã hội tại nơi cư trú.
Hồ sơ cần chuẩn bị gồm:
+ Sổ bảo hiểm xã hội gốc.
+ Đơn đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội 1 lần.
+ Hộ chiếu và visa F1/CR1/IR1, bản sao kèm bản chính để đối chiếu.
+ Giấy xác nhận định cư: Thường là thư mời/giấy chấp thuận visa hoặc giấy của cơ quan di trú Hoa Kỳ.
+ Căn cước công dân.
Theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024, trường hợp của bạn có đủ điều kiện để rút bảo hiểm xã hội với thời gian xử lý tối đa là 5 ngày. Để có thể có thời gian chuẩn bị hồ sơ và đợi xử lý thì cần từ 7-10 ngày nếu đủ hồ sơ, có thể hơn nếu hồ sơ cần chuẩn bị còn thiếu, phải đợi.
Mời bạn đọc gửi câu hỏi để được luật sư tư vấn
Đăng ký Tuổi Trẻ Sao TẠI ĐÂY
Với đội ngũ các luật sư và chuyên gia pháp lý dày dạn kinh nghiệm trên tất cả các lĩnh vực như hôn nhân - gia đình, kinh doanh - thương mại, mua bán đất đai, sở hữu trí tuệ, lao động, hộ tịch, thừa kế..., chuyên mục Tư vấn pháp luật trên Tuổi Trẻ Sao sẽ giải đáp thắc mắc của bạn một cách nhiệt tình, nhanh chóng, chính xác, hiệu quả.
Bạn đọc vui lòng gửi câu hỏi (gõ bằng tiếng Việt có dấu, font chữ UNICODE) về Tuổi Trẻ Sao qua địa chỉ This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. .
Tôi 65 tuổi, đã sinh sống ở Đức 43 năm và có quốc tịch Đức từ năm 1990. Tôi chưa từng từ bỏ quốc tịch Việt Nam khi nhận quốc tịch Đức.
Nhiều ý kiến thắc mắc rằng khi bị tòa án tuyên phạt mức án chung thân thì nếu cải tạo tốt có được giảm án không hay là án chung thân không được xét giảm án?
Bị cáo Lê Nguyễn Anh Tuấn tại tòa - Ảnh: TUYẾT MAI
Bài viết 'Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi có hiệu lực từ 1-7, Tuấn 'cọp' và 5 đồng phạm thoát án tử' được nhiều bạn đọc quan tâm. Trong đó, có nhiều ý kiến thắc mắc rằng khi bị tòa án tuyên phạt mức án chung thân thì nếu cải tạo tốt có được giảm án không hay là án chung thân không được xét giảm án.
Trả lời vấn đề này, luật sư Trần Minh Hùng (Đoàn luật sư TP.HCM) cho rằng trước đó, dự thảo Bộ luật Hình sự sửa đổi có đề xuất hình phạt chung thân không xét giảm án. Tuy nhiên, trong quá trình chỉnh lý đề xuất này đã bị loại bỏ khỏi dự thảo.
Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2025, Luật số 86/2025/QH15 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 25-6-2025 có hiệu lực từ 0h ngày 1-7- 2025. Trong đó, không quy định về hình phạt chung thân không xét giảm án.
Do đó, khi bị phạt tù chung thân theo quy định luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự nhưng quá trình chấp hành án phạm nhân cải tạo tốt, đáp ứng các điều kiện theo quy định thì vẫn có thể được xem xét giảm án.












