Hỏi Đáp Pháp Luật

Hỏi Về Việt Kiều Mua Nhà Tại Việt Nam

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Hỏi Đáp Pháp Luật

Xin hỏi để được mua nhà đất tại Việt Nam cần thỏa mãn những điều kiện gì?

Trân trọng cảm ơn luật sư.

Chúng tôi xin trả lời như sau:

Ba đối tượng Việt kiều được sở hữu nhà ở tại Việt Nam

Điều tiên quyết đầu tiên là người Việt Nam định cư ở nước ngoài ( tạm gọi là Việt kiều) phải được được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ 3 tháng trở lên (visa 3 tháng). Điều này hiện nay hầu như mọi Việt kiều đều có thể đáp ứng.

Tiếp đó, chỉ khi Việt kiều thuộc một trong số các đối tượng sau sẽ có quyền sở hữu nhà (gắn liền với “quyền sử dụng đất” – tại VN, “nhà” thì được sở hữu, còn “đất” là tài sản thuộc “sở hữu toàn dân”, chỉ có “quyền sử dụng) tại Việt Nam:

• Đối tượng 1: Người có quốc tịch Việt Nam

Việt kiều thuộc đối tượng này có quyền sở hữu (không hạn chế số lượng) nhà ở tại Việt Nam. Việc xác lập có thể thông qua nhiều hình thức như : mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế, đổi nhà ở hoặc được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong dự án phát triển nhà ở của các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản để xây dựng nhà ở cho bản thân và các thành viên trong gia đình tại Việt Nam.

Ví dụ : ông A là Việt kiều và còn quốc tịch Việt Nam. Khi đó, nếu ông A được cho phép cư trú tại VN trên 3 tháng thì ông A có quyền mua hoặc nhận thừa kế một căn nhà tại TP.HCM.

• Đối tượng 2:

Việt kiều nếu không thuộc trường hợp trên, cũng có quyền sở hữu nhà ở nếu bản thân thuộc trong các trường hợp sau đây :

 Là «§ Người có công đóng góp với đất nước », bao gồm:

o Người được hưởng chế độ ưu đãi theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi.

o Người có công với cách mạng : có giấy tờ chứng minh được hưởng chế độ ưu đãi do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp;

o Người có thành tích đóng góp trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương, Huy chương, được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen;

o Người tham gia vào Ban Chấp hành các tổ chức chính trị - xã hội của Việt Nam, của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ cấp tỉnh trở lên được các tổ chức này xác nhận;

o Người được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương hội, người là nòng cốt các phong trào, tổ chức của kiều bào có quan hệ với trong nước và người có những đóng góp, giúp đỡ tích cực cho các cơ quan đại diện hoặc các hoạt động đối ngoại của Việt Nam ở nước ngoài được Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài hoặc cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài xác nhận;

§ Nhà văn hoá, nhà khoa học, bao gồm:

Người được phong học hàm, học vị về khoa học, giáo dục, văn hoá - nghệ thuật, thể dục - thể thao của Việt Nam hoặc của nước ngoài, các chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế - xã hội đang làm việc tại Việt Nam.

Được lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Thủ trưởng các trường đại học, cao đẳng, học viện, viện nghiên cứu của Việt Nam mời về làm chuyên gia, cộng tác viên, giảng dạy và có xác nhận của cơ quan, tổ chức mời về việc đối tượng này đang làm việc tại cơ quan, tổ chức đó;
Ví dụ : trường hợp của giáo sư nhạc sỹ Trần Văn Khê, có thể mua và sở hữu nhà tại VN.

§ Người có chuyên môn, kỹ năng đặc biệt có giấy xác nhận về chuyên môn, kỹ năng của hiệp hội, hội nghề nghiệp Việt Nam hoặc của cơ quan cấp Bộ phụ trách lĩnh vực chuyên môn, kỹ năng kèm theo giấy phép hành nghề chuyên môn tại Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp (đối với trường hợp pháp luật yêu cầu phải có giấy phép hành nghề) hoặc Giấy phép lao động do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp (đối với trường hợp pháp luật không yêu cầu phải có giấy phép hành nghề);

§ Người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước có giấy tờ chứng nhận kết hôn do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc của nước ngoài cấp kèm theo hộ khẩu thường trú và giấy chứng minh nhân dân của một bên vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam ở trong nước.

• Đối tượng 3 :

Trường hợp Việt kiều không thuộc hai trường hợp nêu trên, thì vẫn có thể có quyền sở hữu 1 căn nhà ở « riêng lẻ » hoặc một « căn hộ chung cư » tại Việt Nam khi bản thân có đủ hai điều kiện sau:

 Giấy tờ chứng minh là người gốc Việt Nam.§

 Giấy miễn thị thực do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp.§

Trường hợp này, nếu đang sở hữu nhà ở tại Việt Nam mà được thừa kế hoặc được tặng cho nhà ở khác thì chỉ được chọn sở hữu một nhà ở; đối với nhà ở còn lại thì được quyền tặng cho hoặc bán cho các đối tượng khác và được hưởng giá trị.

Giấy tờ chứng minh có quốc tịch Việt Nam hoặc có gốc Việt Nam

- Đối với người có quốc tịch Việt Nam: phải có hộ chiếu Việt Nam còn giá trị. Trong trường hợp mang hộ chiếu nước ngoài thì phải có một trong các giấy tờ chứng minh còn quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật về quốc tịch;

- Đối với người gốc Việt Nam: phải có hộ chiếu nước ngoài kèm theo giấy tờ xác nhận là người gốc Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp để chứng minh có gốc Việt Nam.

Giấy tờ chứng minh điều kiện cư trú tại Việt Nam

- Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu Việt Nam thì phải có Sổ tạm trú hoặc Giấy tờ xác nhận về việc đăng ký tạm trú tại địa phương.

Để được cấp các giấy tờ trên, Việt kiều phải có đơn đề nghị cấp và xuất trình hộ chiếu tại cơ quan công an cấp phường.

Trong thời hạn khoảng 3 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị, công an cấp phường « có trách nhiệm » cấp Giấy xác nhận tạm trú tại VN.

- Đối với người mang hộ chiếu nước ngoài thì phải có Thẻ tạm trú hoặc Có dấu chứng nhận tạm trú đóng vào hộ chiếu với thời hạn được tạm trú tại Việt Nam từ 3 tháng trở lên. Để được cấp giấy tờ này, người mang hộ chiếu nước ngoài có đơn đề nghị, gửi kèm hồ sơ tới cơ quan quản lý xuất nhập cảnh của Việt Nam.

Thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đối với Việt kiều

« Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà » (GCNQSHN) là tên gọi gọn lại của một tờ giấy do UBND cấp quận huyện cấp – là bằng chứng pháp lý chứng minh quyền sở hữu nhà của một người.

Tên gọi đầy đủ của GCNQSHN là « Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất ở và tài sản khác gắn liền với đất » (dài quá !).

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài sau khi đã mua nhà, cần làm thủ tục để xin cấp GCNQSHN, nộp hồ sơ tới Phòng đăng ký – thuộc UBND quận/huyện.

Hồ sơ gồm :

- Đơn đề nghị cấp Giấy (theo mẫu).

Hợp đồng mua bán nhà - có công chứng.

- Biên lai thu phí, lệ phí.

- Các giấy tờ chứng minh về việc người đề nghị thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam; giấy tờ chứng minh về nguồn gốc, quốc tịch Việt Nam của người đề nghị.

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi:

hỏi về việc tặng cho ủy quyền sang tên nhà cho con có đòi được?

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Hỏi Đáp Pháp Luật

Ngày 18/10, báo Phụ Nữ đã tiếp nhận đơn cầu cứu của ông Phạm Văn Trình (SN 1942, ngụ P.6, Q.8) phản ánh về việc bị vợ chồng con trai ruột lập mưu chiếm đoạt hai căn nhà và bạo hành.

Theo trình bày của cụ Trình, gia đình cụ có 4 người con trong đó chỉ có riêng ông Phạm Nhân Q. (sinh năm 1979) là không được học hành đến nơi đến chốn. Thời con trẻ ông Q. đã sớm sa chân vào ma túy và đã nhiều lần bị đưa đi cải tạo, cai nghiện tập trung. Năm 2006, sau nhiều lần được đưa đi cai nghiện, ông Q. trở về nhà xin bố mẹ cưới vợ và hứa sẽ tu tâm dưỡng tính đoạn tuyệt với ma túy. Thương con, cụ Trình chấp nhận cưới và cho con và trích phần tiền lương hưu của mình mỗi tháng 3 triệu đồng để chu cấp cho người con trai lầm lỡ. Thấy con trai thật sự đoạn tuyệt với ma túy nên cụ Trình hết sức tin tưởng con và luôn khuyên con làm ăn lương thiện để tương lai cho con cái sau này.

Đến năm 2013, khi cụ Trình chuyển từ Q.3 về mua căn nhà ở địa chỉ 1629/2A Phạm Thế Hiển (P.6, Q.8) làm nơi an dưỡng tuổi già thì ông Q. liên tục đến năn nỉ bố mẹ công chứng ủy quyền cho mình căn nhà này để vay vốn làm ăn. Sau nhiều lần ông Q. đến năm nỉ, vợ chồng cụ Trình đã đồng ý làm giấy công chứng ủy quyền căn nhà này cho ông Q. với điều kiện ông Q. phải ký giấy cam kết là đến tháng 3/2015 sẽ hoàn tất việc thế chấp căn nhà và trả lại chủ quyền căn nhà cho cụ Trình. Tuy nhiên, đến thời hạn trả lại chủ quyền căn nhà như cam kết thì ông Q. nhiều lần tìm cách trì hoãn không trả nhà lại cho bố mẹ. Cho đến đầu năm 2016, cụ Trình phát hiện căn nhà mình ủy quyền cho con trai đã được sang tên cho bà Nguyễn Thị T. (sinh năm 1982, vợ ông Q.).

Cụ Trình cho hay: “Tuy làm giấy ủy quyền cho con trai tôi nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở lúc đó vẫn do vợ chồng tôi đứng tên. Tuy nhiên, không hiểu bằng phép thuật nào con trai tôi đã sang tên căn nhà đó cho vợ nó. Một chuyện vô lý như vậy mà UBND Q.8 vẫn đồng ý sang tên và cấp giấy chứng nhận vào ngày 29/1/2016”.

Cũng theo cụ Trình, đây không phải là lần đầu tiên cụ bị con trai lừa gạt chiếm đoạt căn nhà. Trước đó, vào năm 2014, cũng với chiêu trò như trên, ông Q. đã dụ dỗ cụ Trình làm giấy ủy quyền một căn nhà của cụ Trình tại Tân Hiệp (Tiền Giang). Tuy nhiên, sau đó ông Q. đã bán căn nhà này với giá 500 triệu đồng và chiếm giữ. Khi biết được sự việc cụ Trình rất giận nhưng vì thương con nên cụ Trình đã bỏ qua. Cụ Trình không ngờ sau lần đó, ồn Q. lại tiếp tục lập mưu chiếm đoạt luôn căn nhà còn lại của cụ.

Dù bị con trai lập mưu chiếm nhà, nhưng cụ Trình vẫn không tố cáo vì nghĩ thương con và tin rằng sẽ sống hết những ngày cuối đời còn lại sau đó tài sản sẽ cho con. Tuy nhiên, thời gian gần đây cụ Trình liên tục bị con dâu và con trai mình bạo hành với mục đích đuổi hai vợ chồng cụ Trình ra khỏi nhà.

Theo đó, vào ngày 17/8, vợ chồng ông Q. đến xin cụ Trình cho dọn về căn nhà 1629/2A Phạm Thế Hiển (P.6, Q.8) để sống chung. Khi cụ Trình không đồng ý thì vợ chồng ông Q. lấy lý do căn nhà này do mình đứng tên và buộc cụ Trình phải cho vào nhà sống chung. Không muốn gia đình xảy ra xích mích nên cụ Trình đã đồng ý cho vợ chồng ông Q. vào ở chung và nhường phòng ở của mình cho ông Q. sống.

Tuy nhiên, đến ngày 13/9, trong khi cụ Trình ra ngoài thì ở nhà giữa cụ Phạm Thị Việt Thanh (SN 1943, vợ cụ Trình) và bà T. xảy ra mâu thuẫn do việc dọn dẹp vệ sinh trong nhà. Lúc này, bà T. đã mang rất nhiều đồ đạc của cụ Thanh ra đập và khóa trái cửa nhà không cho ai vào. Khi cụ Trình về không thể vào nhà được nên đã gọi điện cầu cứu cơ quan chức năng.

Ngay sau khi cán bộ phường ra về thì cụ Trình lại tiếp tục bị con dâu và con trai mình chửi mắng, đập phá đồ đạc trong nhà. Từ đó đến nay cụ Trình không nhớ mình đã bao nhiêu lần bị con dâu và con trai chửi bới, đập phá đồ đạc và đuổi ra khỏi nhà.

Mới đây nhất vào ngày 17/10, khi UBND P. 6, Q.8 có giấy mời ông và vợ chồng ông Q. lên phường để hòa giải thì vợ chồng ông Q. lại tiếp tục đập phá đồ đạc và chửi bới vợ chồng cụ. Cũng theo cụ vào chiều ngày 18/10, UBND P.6, Q.8 sẽ có một buổi hòa giải giữa vợ chồng ông Q. và cụ Trình. Tuy nhiên, nếu vụ việc này không giải quyết dứt điểm thì có lẽ cụ Trình sẽ không còn dám ở trong căn nhà của mình nữa.

1. Như lời kể của cụ Trình thì Q. đã lừa bố mẹ mình ủy quyền hai căn nhà sau đó bán và sang tên cho vợ như vậy có phạm tội tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay không ?

2. Việc ông Q. có hành vi bạo hành bố mẹ như đã kể trên thì có đến mức bị xử phạt hay không ?

3. Hiện tại cụ Trình nên làm gì để bảo vệ quyền lợi cho mình ?

 

  1. Như lời kể của cụ Trình thì Q. đã lừa bố mẹ mình ủy quyền hai căn nhà sau đó bán và sang tên cho vợ như vậy có phạm tội tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay không ?
  2. Việc ông Q. có hành vi bạo hành bố mẹ như đã kể trên thì có đến mức bị xử phạt hay không ?

          Nếu việc ủy quyền chỉ ủy quyền quản lý, sử dụng mà ông Q chuyển nhượng sang cho vợ là trái quy định. Ngoài ra, nếu theo cam kết thỏa thuận ông Trình chỉ ủy quyền để cho ông Q vay ngân hàng nhưng ông Q lại sang tên cho bà vợ ông Q là bà T thì ủy quyền này có dấu hiệu bị lừa dối. Theo quy định giao dịch dân sự bị lừa dối thì ông Trình có quyền khởi kiện ra Tòa án yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền và và hủy việc chuyển nhượng giữa ông Q và bà T, hủy giấy chứng nhận sang tên lại cho ông Trình theo đúng quy định do ông Trình bị lừa dối. Việc ông Q có dấu hiệu vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay không còn tùy cơ quan chức năng vào cuộc. Tuy nhiên, theo như thông tin thì ông Q đã có dấu hiệu gian dối, lừa dối ngay từ đầu nên theo tôi có cơ sở ông Q đã có dấu hiệu của hành vi lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản của ông Trình.

  • Theo tôi hành vi của ông Q đã có dấu hiệu hành hạ người khác. Theo quy định tại điều 110 Bộ luật hình sự quy định:

"1. Người nào đối xử tàn ác với người lệ thuộc mình thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Đối với người già, trẻ em, phụ nữ có thai hoặc người tàn tật;

b) Đối với nhiều người".

            Pháp luật là một chuyện nhưng hành vi của ông Q được cho là bất hiếu, vi phạm đạo đức, quy tắc xã hội. Hành vi này nếu không bị xử lý hình sự cũng có thể bị xử lý về mặt hành chính về hành vi của mình. Cơ quan chính quyền địa phương cần can thiệp kịp thời và có hành vi xử phạt nghiêm khắc đối với ông Q.

  1. Hiện tại cụ Trình nên làm gì để bảo vệ quyền lợi cho mình ?

          Ông Trình nên làm khiếu nại ra UBND phường để được hòa giải, can thiệp. Đối với hành vi ông Q đập đồ đạc, chửi bởi thì ông Trình nên báo công an phường can thiệp, lập biên bản sự việc. Nếu hòa giải không thành thì nên làm đơn ra Tòa án có thẩm quyền để khởi kiện yêu cầu hủy ủy quyền do bị lừa dối, hủy việc chuyển nhượng sang tên bà T vợ ông Q, trả lại giấy tờ nhà đất cho ông Trình, ông Trình có thể liên hệ luật sư để được luật sư tư vấn và hướng dẫn thủ tục khởi kiện cho ông Trình.

Nhân viên ngân hàng lừa đảo

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Hỏi Đáp Pháp Luật

nganhang

Hỏi: Vụ việc tiền Ngân hàng
Cháu chào chú ! Cháu tên Quỳnh , năm nay chỉ mới 16 tuổi thôi. Mẹ cháu đang mắc vướn 1 vấn đề về luật pháp. Mong chú có thể giải đáp cho cháu. Mẹ cháu có vay mượn tiền ngân hàng. Người trong ngân hàng cử ông Hoàng đến thu tiền nhà cháu mỗi tháng. Kì đầu , mẹ có đưa ông H 1 triệu đồng và có biên lai rõ ràng. Kì thứ 2 mẹ cháu đưa cho ông H 3 triệu . Ông H bảo mẹ cháu : " Chị đưa tờ biên lai đợt trước để ghi vô " ; mẹ cháu :" Bộ anh không có biên lai hay sao , tôi kiếm nảy giờ không thấy , để lạc mất đâu rồi ". Ông H tỏ vẻ gấp rút rồi bảo mẹ cháu đợt sau đưa biên lai kí luôn. Rồi sau nữa tháng , người trong Ngân hàng đến nói rằng mẹ cháu chưa thanh toán tiền.

Thủ tục thành lập công ty

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Hỏi Đáp Pháp Luật

Hỏi: thành lập công ty cần những thủ tục gì
Cho tôi hỏi thủ tục thành lập công cần những thủ tục gì?
Trả lời:

Căn cứ Điều 21 Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp quy định: Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên gồm:

1. Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp;

2. Dự thảo Điều lệ công ty có đầy đủ chữ ký của chủ sở hữu công ty, người đại diện theo pháp luật đối với trường hợp chủ sở hữu là cá nhân; người đại diện theo ủy quyền, người đại diện theo pháp luật đối với chủ sở hữu công ty là tổ chức. Chủ sở hữu công ty phải chịu trách nhiệm về sự phù hợp pháp luật của điều lệ công ty;

3. Bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân quy định tại Điều 24 Nghị định này của chủ sở hữu công ty đối với trường hợp chủ sở hữu công ty là cá nhân hoặc Quyết định thành lập, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy tờ tương đương khác, Điều lệ hoặc tài liệu tương đương khác của chủ sở hữu công ty đối với trường hợp chủ sở hữu công ty là tổ chức (trừ trường hợp chủ sở hữu công ty là Nhà nước);

4. Danh sách người đại diện theo ủy quyền đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được tổ chức quản lý theo quy định tại khoản 3 Điều 67 của Luật Doanh nghiệp lập theo mẫu do Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định. Kèm theo danh sách này phải có Bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân quy định tại Điều 24 Nghị định này của từng đại diện theo ủy quyền.

Bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân quy định tại Điều 24 Nghị định này của người đại diện theo ủy quyền đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được tổ chức quản lý theo quy định tại khoản 4 Điều 67 của Luật Doanh nghiệp;

5. Văn bản ủy quyền của chủ sở hữu cho người được ủy quyền đối với trường hợp chủ sở hữu công ty là tổ chức;

6. Văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối với công ty kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có vốn pháp định;

7. Bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề của một hoặc một số cá nhân theo quy định đối với công ty kinh doanh các ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề.

Như vậy anh có thể chuẩn bị hồ sơ theo quy định nêu trên và uỷ quyền cho người khác để nộp hồ sơ xin thành lập chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh.

Những loại hợp đồng nào bắt buộc công chứng chứng thực

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Hỏi Đáp Pháp Luật

Hỏi: hỏi về những loại hợp đồng nào bắt buộc công chứng chứng thực
Kính chào luật sư gia đình.Luật sư cho tôi hỏi hiện nay tôi đang tính mua nhà đất nhưng không biết có bắt buộc phải đi công chứng không? và những loại hợp đồng gì tôi phải đi công chứng khi mua bán?

xin chân thành cảm ơn luật sư

Hồng Cẩm

Trả lời:
Chào bạn Hồng Cẩm, vấn đề bạn hỏi chúng tôi trả lời như sau:

Đây là những loại hợp đồng bắt buộc công chứng, chứng thực

_+ Hợp đồng mua bán nhà ở, trừ trường hợp bên bán nhà ở là tổ chức có chức năng kinh doanh nhà ở (theo quy định tại Điều 450 của Bộ luật Dân sự năm 2005 và điểm b, khoản 3, Điều 93 của Luật Nhà ở năm 2005);

+ Hợp đồng tặng cho nhà ở hoặc bất động sản khác phải đăng ký quyền sở hữu, trừ bên tặng cho nhà ở là tổ chức (theo quy định tại khoản 1, Điều 467 của Bộ luật Dân sự năm 2005; điểm d, khoản 3, Điều 93 của Luật Nhà ở năm 2005);

+ Hợp đồng thuê nhà ở từ 6 tháng trở lên, trừ trường hợp thuê nhà công vụ, thuê mua nhà ở xã hội và bên cho thuê nhà ở là tổ chức có chức năng kinh doanh nhà ở (theo quy định tại Điều 492 của Bộ luật Dân sự năm 2005; điểm b và c, khoản 3, Điều 93 của Luật Nhà ở năm 2005; khoản 4, Điều 62, Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06-9-2006 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở);

+ Hợp đồng đổi, cho mượn, cho ở nhờ, uỷ quyền quản lý nhà ở; theo quy định tại khoản 3, Điều 93 của Luật Nhà ở năm 2005;

+ Hợp đồng thế chấp nhà ở (theo quy định tại khoản 3, Điều 93 của Luật Nhà ở năm 2005)

+ Hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất (theo quy định tại khoản 1, Điều 689 của Bộ luật Dân sự năm 2005; điểm b, khoản 1, Điều 126; điểm b, khoản 1, Điều 127 của Luật Đất đai năm 2003);

+ Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất (theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 128 của Luật Đất đai năm 2003);

+ Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 129 của Luật Đất đai năm 2003);

+ Hợp đồng thế chấp (bảo lãnh) bằng quyền sử dụng đất (theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 130 của Luật Đất đai năm 2003);

+ Hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất (theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 131 của Luật Đất đai năm 2003);

+ Việc sửa đổi các hợp đồng đã được công chứng, chứng thực (theo quy định tại khoản 2, Điều 423 của Bộ luật Dân sự năm 2005).

cảm ơn bạn đã liên hệ đến chúng tôi, vấn đề nào không rõ bạn vui lòng liên hệ đến bộ phận luật sư tư vấn miễn phí, điện thoại: 08-38779958 - 0972238006

Giới Thiệu Luật Sư Trần Minh Hùng

link s75  

Với phương châm đặt chữ "Tâm" của nghề lên hàng đầu, chúng tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào sự công bằng và bảo vệ công lý cho xã hội. Là hãng luật uy tín thường xuyên tư vấn luật trên HTV, VTV, THVL, ANTV, VTC, SCTV, TH Cần Thơ, Đồng Nai và trên các tờ báo uy tín... Chúng tôi chuyên tư vấn, bào chữa cho khách hàng, thân chủ trên mọi lĩnh vực đất đai, thừa kế, hình sự, doanh nghiệp, ly hôn, công nợ, lao động, hợp đồng....

 

                                   LS TRẦN MINH HÙNG 


Hotline:0972238006