Luật Sư Thừa Kế

Luật sư tư vấn công chức có được nhận thừa kế đất nông nghiệp

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Thừa Kế

1. Công chức có được nhận thừa kế đất nông nghiệp?

Câu hỏi: Khi cấp quyền theo nghị định 64/CP hộ gia đình tôi được cấp 4 khẩu (cha, me và 2 anh em tôi - lúc này còn nhỏ) gồm có ruộng lúa và đất. Năm 2014 cha tôi qua đời không để di chúc, em tôi là công chức ở xã; tôi cũng là công chức hiện ở với mẹ. Mẹ tôi vì già yếu nên muốn chuyển toàn bộ quyền sử dụng đất cho tôi (cả lúa và đất ở), em tôi cũng đồng ý. Tôi đã đến cơ quan công chứng làm thủ tục phân chia và tặng cho, nhưng khi nộp hồ sơ cho VPĐK đất đai, văn phòng không chấp nhận. Vì tôi không trực tiếp sản xuất nông nghiệp nên phần đất trồng lúa của gia đình tôi tôi không đủ điều kiện nhận được nhận. Việc giải quyết như vậy đúng hay sai? Đất trồng lúa của hộ gia đình tôi xử lý như thế nào? Ai là người được sử dụng?

Luật sư Gia Đình trả lời: Chúng tôi xin trả lời câu hỏi của anh như sau:

Khoản 3 Điều 191 Luật đất đai 2013 quy định: "Hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa". Như vậy, anh là công chức, không trực tiếp sản xuất nông nghiệp nên sẽ không phải là đối tượng được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho phần đất nông nghiệp của mẹ anh.

Tuy nhiên, quy định trên chỉ không cho phép người không trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa mà không cấm quyền nhận thừa kế. Dó đó, anh vẫn có thể nhận thừa kế quyền sử dụng phần đất nông nghiệp này theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 169: "Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được nhận chuyển quyền sử dụng đất thông qua nhận thừa kế quyền sử dụng đất" và theo quy định tại Điểm đ, khoản 1, Điều 179 Luật Đất Đai 2013 quy định: "cá nhân sử dụng đất có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Hộ gia đình được Nhà nước giao đất, nếu trong hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó được để thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.

2. Cháu có được hưởng thừa kế đất nông nghiệp của ông bà không?

Theo quy định tại Điều 631 Bộ luật dân sự năm 2005 thì Quyền thừa kế của cá nhân: Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Tuy nhiên, trong trường hợp cá nhân chết mà không để lại di chúc thì phần di sản sẽ được chia theo pháp luật

Điều 675: Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản.

2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế.

Theo nội dung bạn gửi đến, có thể hiểu ông bà bạn chết đã không để lại di chúc. Theo quy định của pháp luật, khi người chết không để lại di chúc thì di sản sẽ được chia theo quy định của pháp luật. Có thể thấy, phần đất nông nghiệp của ông bà bạn đương nhiên thuộc vào di sản thừa kế do ông bà nội bạn để lại. Vì ông bà bạn chết đều không để lại di chúc nên khi có tranh chấp về di sản thừa kế thì tòa án sẽ áp dụng thừa kế theo pháp luật.

Người thừa kế theo pháp luật (Điều 676 Bộ luật dân sự 2005)

“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”.

Điều 677 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về thừa kế thế vị

Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

Như vậy, khi áp dụng diện thừa kế theo pháp luật thì những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;các bác của bạn thuộc hàng thừa kế thứ nhất và họ đương nhiên được hưởng phần di sản thuộc về họ.

Theo đó, bạn thuộc hàng thừa kế thứ hai. Bạn chỉ được nhận thừa kế (khi không có di chúc) một phần đất mà ông bà để lại khi hàng thứ nhất không có. Như vậy, phần đất nông nghiệp đó sẽ được chia thừa kế cho bố bạn cùng với anh, chị, em của bố bạn.

Thừa kế đất nông nghiệp cần có điều kiện gì?

Trước đây, tại Bộ luật Dân sự năm 1995 có quy định: Người thừa kế đất nông nghiệp phải có điều kiện như: có nhu cầu sử dụng đất, có điều kiện trực tiếp sử dụng đất đúng mục đích; chưa có đất hoặc đang sử dụng đất dưới hạn mức theo quy định của pháp luật về đất đai. Hiện nay, Bộ Luật dân sự năm 2005 đã xóa bỏ những quy định này và đất nông nghiệp cũng được coi là tài sản thừa kế như các lọai tài sản khác.

Luật Đất đai số: 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013:

- Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất (Điều 188 Luật Đất đai):

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

2. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật này.

3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.

- Trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất (Điều 191 Luật Đất đai):

1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất đối với trường hợp mà pháp luật không cho phép chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất.

2. Tổ chức kinh tế không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của hộ gia đình, cá nhân, trừ trường hợp được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

3. Hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa.

4. Hộ gia đình, cá nhân không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất nông nghiệp trong khu vực rừng phòng hộ, trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng, nếu không sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đó.

Thời hiệu khởi kiện về thừa kế (Điều 645 Bộ luật dân sự 2005):

- Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

- Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

ANTV5

Luật sư Trần Minh Hùng chuyên gia tư vấn luật trên kênh HTV, VTV, THVL1, ANTV, SCTV1...

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội. 

 Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hình uy tín như:  Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Truyền hình Công an ANTV, SCTV, THQH, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Truyền hình Quốc Hội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ đại án Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như và Viettinbank, Vụ cướp 35 tỷ Long Thành - Dầu giây, Chống thi hành công vụ mùa Covid, các vụ Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái... và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Chúng tôi cùng tư vấn luật và cố vấn pháp lý cho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước rất lâu năm.

Trân trọng cảm ơn!.

Luật sư tư vấn quyền thừa kế nhà đất khi không có Sổ đỏ

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Thừa Kế

1. Đất làm nhà thờ họ có được chia thừa kế

Câu hỏi:

Tôi đang quản lý sử dụng 1700m2 đất. Nguồn gốc đất là của bố mẹ chồng tôi được ông nội chia cho. Trên mảnh đất này xưa kia đã từng có nhà thờ của họ Nguyễn - một dòng họ có từ hơn 300 năm nay, nhưng các ngôi nhà thờ họ đã bị chiến tranh tàn phá và đã bị dỡ bỏ từ lâu chỉ có ngôi nhà ở do mẹ chồng tôi xây lại vào năm 1983 trên nền ngôi nhà ở cũ của bố mẹ chồng. Cuối năm 1983 khi mẹ chồng tôi mất thì giao lại cho tôi tiếp tục quản lý trông nom nhà cửa. Trong bản đồ địa chính xã năm 1986 và 1993 tôi là người đứng ra kê khai diện tích đất này. Hiện nay trên diện tích đất này ngoài ngôi nhà của mẹ chồng xây năm 1983 còn có ngôi nhà tôi xây cho các con tôi ở, sân gạch và cây cối. Năm 2001 tôi đã đồng ý cho một số người trong dòng họ Nguyễn góp tiền để sửa sang lại ngôi nhà (25 triệu đồng) để dùng làm nơi thờ cúng dòng họ và cho những người thuộc dòng họ Nguyễn đến thắp hương vào ngày cúng giỗ. Nhưng lợi dụng việc này mà năm 2003 có một người cháu của tôi đã đứng lên thu thập chữ ký của một số trưởng chi họ khởi kiện đòi nhà thờ họ và đòi chia thừa kế đất đai của tổ tiên. Vậy như thế nào thì coi là đất của dòng họ? Nếu là đất thờ cúng của dòng họ thì có thể yêu cầu chia thừa kế hay không?

Luật sư Gia Đình trả lời:

Căn cứ khoản 1 phần IV Quyết định số 201/CP ngày 01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước quy định: “Để thực hiện thống nhất quản lý ruộng đất, tất cả các tổ chức và cá nhân sử dụng đất đều phải khai báo chính xác và đăng ký các loại ruộng đất mình sử dụng vào sổ địa chính của Nhà nước. Uỷ ban nhân dân xã phải kiểm tra việc khai báo này”. Theo dữ kiện bà nêu thì diện tích đất này có nguồn gốc từ ông nội của chồng chứ không phải là đất của dòng họ Nguyễn. Sau khi mẹ chồng mất năm 1983 thì do bà quản lý sử dụng. Trong bản đồ địa chính của xã năm 1986 thể hiện bà là người đứng ra kê khai đăng ký việc sử dụng đất. Trong bản đồ địa chính năm 1993 thì bà cũng đứng ra kê khai và đóng tiền sử dụng đất. Do đó bà được xác định là người sử dụng đất chứ không phải dòng họ Nguyễn và dòng họ Nguyễn không uỷ quyền cho bà thay mặt dòng họ kê khai.

Theo dữ kiện bà nêu thì trước kia trên diện tích đất này đã từng có nhà thờ họ Nguyễn nhưng đã không còn hiện nay chỉ có ngôi nhà ở do mẹ chồng xây năm 1983, sau khi mẹ chồng chết thì giao lại cho bà tiếp tục quản lý nên tài sản này thuộc quyền sử dụng của bà. Điều 199 Bộ luật dân sự quy định: “Trong trường hợp chủ sở hữu trực tiếp thực hiện quyền sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình, thì chủ sở hữu được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản theo ý chí của mình, nhưng không được gây thiệt hại và làm ảnh hưởng đến lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác”.

Việc bà dành hai gian của ngôi nhà bà đang ở làm nơi thờ cúng dòng họ Nguyễn là thuộc quyền của chủ sở hữu trong việc sử dụng tài sản của mình.

Căn cứ khoản 1 Điều 234 Bộ luật dân sự quy định: “Sở hữu chung của cộng đồng là sở hữu của dòng họ... đối với tài sản được hình thành theo tập quán, tài sản do các thành viên của cộng đồng cùng nhau đóng góp, được tặng, quyên góp, cho chung hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật nhằm mục đích thoả mãn lợi ích chung hợp pháp của cả cộng đồng”. Theo dữ kiện của bà nêu thì không có căn cứ xác định ngôi nhà mà bà hiện nay đang sử dụng hai gian làm nhà thờ dòng họ Nguyễn mà của mẹ chồng xây dựng từ năm 1983 trên diện tích đất được ông nội của chồng chia cho. Năm 2001 bà có đồng ý cho một số người trong họ Nguyễn đóng góp tiền (với số tiền 25 triệu đồng) để tu sửa nhằm mục đích cho họ đến đây cúng giỗ chứ không phải là bà tặng cho ngôi nhà này làm nhà thờ họ Nguyễn. Việc đóng góp tiền tu sửa ngôi nhà của một số người trong họ được coi là đồng sở hữu chung theo phần theo quy định tại khoản 1 Điều 231 Bộ luật dân sự quy định: “Sở hữu chung theo phần là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định đối với tài sản chung”. Căn cứ khoản 2 Điều này quy định: “Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền, nghĩa vụ đối với tài sản thuộc sở hữu chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác”. Như vậy việc đóng góp để tu sửa ngôi nhà mà bà dành để thờ cúng họ Nguyễn không phải là điều kiện để xác lập quyền sở hữu của dòng họ đối với ngôi nhà này. Những người đóng góp chỉ có quyền sở hữu đối với phần tài sản trị giá 25 triệu đồng mà mình đã đóng góp. Nếu có tranh chấp và có yêu cầu chia tài sản chung theo phần thì sẽ được trả bằng tiền đã đóng góp.

Giả sử diện tích đất bà đang sử dụng là của dòng họ Nguyễn hoặc ngôi nhà thờ là của dòng họ Nguyễn thì căn cứ khoản 2 Điều 234 Bộ luật dân sự quy định: “Các thành viên của cộng đồng cùng quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung theo thoả thuận hoặc theo tập quán, vì lợi ích của cộng đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội”. Nên tài sản này thuộc quyền định đoạt và sử dụng của tất cả các thành viên trong dòng họ. Vì vậy người cháu được một số người trong dòng họ uỷ quyền khởi kiện đòi nhà đất của dòng họ là chưa đầy đủ tư cách đại diện của dòng họ.

Căn cứ khoản 3 Điều 234 Bộ luật dân sự quy định: “Tài sản chung của cộng đồng là tài sản chung hợp nhất không phân chia”. Do đó giả sử diện tích đất và nhà thờ của dòng họ thì cũng không thể chia thừa kế được.

Do vậy, trong vụ kiện này người cháu phải chứng minh tư cách đại diện dòng họ của mình trong việc kiện đòi nhà thờ họ (nếu là nhà thờ của dòng họ) và phải chứng minh diện tích nhà đất mà bà đang sử dụng là tài sản của dòng họ theo quy định tại khoản 1 Điều 234 Bộ luật dân sự.

2. Quyền thừa kế nhà đất khi không có Sổ đỏ

Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

“Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”.

Theo đó, di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

Lưu ý: Di chúc miệng chỉ được lập trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản; sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.

Theo những quy định trên, người sử dụng đất có quyền để lại quyền sử dụng đất của mình theo di chúc, theo pháp luật. Tuy nhiên cần lưu ý, không phải trường hợp nào cũng có quyền lập di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc có chứng thực (vì Luật Đất đai có quy định riêng).

1. Hướng dẫn lập di chúc khi không có Giấy chứng nhận

Khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai 2013 quy định:

“1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất”.

Ngoài ra, tại điểm c khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013 còn quy định:

“c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự”.

Như vậy, nếu bạn đọc chỉ biết các quy định trên thì sẽ hiểu “muốn thực hiện quyền thừa kế quyền sử dụng đất thì thửa đất đó phải có Giấy chứng nhận”. Tuy nhiên, Điều 628 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hình thức di chúc bằng văn bản bao gồm 04 loại:

- Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng.

- Di chúc bằng văn bản có người làm chứng.

- Di chúc bằng văn bản có công chứng.

- Di chúc bằng văn bản có chứng thực.

Tóm lại, chỉ khi lập di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc có chứng thực mới phải có Giấy chứng nhận (Sổ đỏ, Sổ hồng). Hay nói cách khác, nếu không có Giấy chứng nhận thì sẽ bị từ chối yêu cầu công chứng hoặc chứng thực,trừ 2 trường hợp; người sử dụng đất vẫn có quyền lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng hoặc di chúc bằng văn bản có người làm chứng, cụ thể:

* Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng

Căn cứ Điều 633 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc bằng văn bản không có người làm chứng được thực hiện như sau:

- Người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc.

- Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể:

+ Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:

. Ngày, tháng, năm lập di chúc.

. Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc.

. Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản.

. Di sản để lại và nơi có di sản.

Ngoài các nội dung trên, di chúc có thể có các nội dung khác.

+ Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.

* Di chúc bằng văn bản có người làm chứng

Căn cứ Điều 634 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc bằng văn bản có người làm chứng được thực hiện như sau:

Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

Việc lập di chúc bằng văn bản có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 (như di chúc không có người làm chứng) và Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể:

Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau:

- Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.

- Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.

- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

2. Quyền thừa kế khi đất không có Giấy chứng nhận

Khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai 2013 quy định:

“1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất”.

Như vậy, điều kiện có Giấy chứng nhận chỉ áp dụng khi người sử dụng đất thực hiện quyền thừa kế. Hay nói cách khác, quy định trên chỉ áp dụng khi người sử dụng đất còn sống, thể hiện quyền của mình bằng di chúc; khi người đó chết thì không được xem là thực hiện quyền thừa kế vì không thể hiện ý chí của mình trước khi chết.

Theo Điều 649 Bộ luật Dân sự 2015, thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.

Khi chia thừa kế phải xác định đối tượng được hưởng di sản (xác định người thừa kế) bằng cách xác định người thuộc diện và hàng thừa kế.

* Diện thừa kế

Diện thừa kế là người có mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng (cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi và ngược lại) với người chết.

Theo đó, không phải ai thuộc diện thừa kế cũng được hưởng di sản vì phụ thuộc vào hàng thừa kế.

* Hàng thừa kế

Căn cứ khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.

- Hàng thừa kế thứ hai gồm: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.

- Hàng thừa kế thứ ba gồm: Cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Kết luận: Trên đây là hướng dẫn thực hiện quyền thừa kế nhà đất khi không có Sổ đỏ. Theo đó, khi đất không có Sổ đỏ, Sổ hồng thì người sử dụng đất được thực hiện quyền thừa kế của mình bằng cách: Lập di chúc không có người làm chứng hoặc có người làm chứng. Nếu không thực hiện quyền của mình thì khi chết vẫn chia thừa kế theo pháp luật.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng: Nhà đất không có Sổ đỏ, Sổ hồng thì khi chia thừa kế có thể sẽ gặp một số vướng mắc tùy vào từng trường hợp cụ thể.

VTV1

Luật sư Trần Minh Hùng chuyên gia tư vấn luật trên kênh HTV, VTV, THVL1, ANTV, SCTV1...

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội. 

 Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hình uy tín như:  Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Truyền hình Công an ANTV, SCTV, THQH, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Truyền hình Quốc Hội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ đại án Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như và Viettinbank, Vụ cướp 35 tỷ Long Thành - Dầu giây, Chống thi hành công vụ mùa Covid, các vụ Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái... và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Chúng tôi cùng tư vấn luật và cố vấn pháp lý cho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước rất lâu năm.

Trân trọng cảm ơn!.

Luật sư tư vấn vì sao có di chúc vẫn phải xác nhận hàng thừa kế

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Thừa Kế

1. Tại sao có di chúc rồi vẫn phải xác nhận hàng thừa kế?

VD 3: Ông A có di chúc để lại toàn bộ tài sản cho con trai là ông B, khi ông A chết, vợ và các con ông A vẫn còn sống và di chúc được xác định là hợp pháp và có hiệu lực. Tuy nhiên vẫn phải yêu cầu xác nhận đầy đủ thông tin về cha, mẹ, vợ, các con khác của ông A mặc dù không có tên trong di chúc hợp pháp của ông A bởi vì quy định sau:

Điều 644 Bộ luật dân sự 2015 về Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, theo đó: “Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con thành niên mà không có khả năng lao động.”

Như vậy kể cả di chúc không cho những người nêu trong điều luật trên được hưởng thì họ vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, không phụ thuộc di chúc cho ai.

2. Phát sinh tranh chấp giữa những người thừa kế

Xây dựng tình huống thể hiện phát sinh tranh chấp giữa những người thừa kế về tài sản thừa kế và di sản thừa kế vừa được chia theo di chúc vừa được chia theo pháp luật.

Ông A với bà B là vợ chồng trong quá trình chung sống có con chung là anh C và chị D .

Năm 1990, ông A và bà B phát sinh mâu thuẫn và đã ly hôn. Họ thống nhất thỏa thuận bà B nhận cả ngôi nhà đang ở (và nuôi chị D), ông A nuôi anh C và được chia một số tài sản trị giá là 80 triệu đồng. Năm 2000 ông A tiết kiệm được 150 triệu đồng và ông xây dựng 1 căn hộ khác. Tháng 2002 ông A kết hôn với bà T sinh ra được 2 người con là anh E và chị H. Hai ông bà sống trong căn nhà mới này và ông A tuyên bố nhà và số tiền 80 triệu đồng ông đang cất giữ là của riêng không nhập vào tài sản chung.

Tháng 7/2017 ông A bị tai nạn chết để lại di chúc, trong di chúc có nói rõ là cho anh C hưởng 1/2 di sản của ông. Riêng ngôi nhà ông để lại cho bà T dùng làm nơi thờ cúng mà không chia thừa kế. Tháng 1/2018, anh C yêu cầu bà T chuyển giấy tờ nhà đất cho mình nhưng bà không chịu nên anh C đã xảy ra xô xát gây thương tích cho bà T.

Khi biết tin ông A qua đời chị D đến nhà bà T và anh A đòi chia di sản mà ông A để lại do chị D cũng là con đẻ của ông A. Nhưng anh C và bà T không đồng ý và xảy ra cãi vã .Đến tháng 2/2018, chị D có đơn gửi tòa án yêu cầu chia di sản thừa kế của bố.

Qua điều tra xác định: ngôi nhà của ông A tính đến thời điểm có yêu cầu chia di sản thừa kế trị giá 300 triệu đồng, ông A và bà T tạo lập được khối tài sản chung trị giá 600 triệu đồng.

Tranh chấp tài sản thừa kế giữa những người thừa kế

Áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp giữa những người thừa kế về tài sản thừa kế.

Về khái niệm di sản có thể được hiểu như sau: di sản thừa kế là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết được chuyển dịch cho người thừa kế hợp pháp của người đó sau khi đã thanh toán toàn bộ nghĩa vụ tài sản từ di sản của người chết để lại dối người khác

Theo quy định tại điều 612 Bộ luật dân sự 2015 như sau: “Di sản thừa kế gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.”

Thừa kế di sản thừa kế là quyền lợi hợp pháp của người thừa kế (thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật). Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp việc phân chia di sản nảy sinh mâu thuẫn giữa những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến việc phân chia di sản dẫn đến tranh chấp.

Giải quyết tranh chấp phân chia di sản thừa kế là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền vận dụng các quy định của pháp luật nhằm giải quyết các bất đồng mâu thuẫn của hai hay nhiều bên trong mối quan hệ thừa kế. Để bảo về tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp, gớp phần vào việc ổn định trật tự xã hội.

Tranh chấp về thừa kế thường gồm các dạng tranh chấp về hàng thừa kế, tranh chấp di chúc thừa kế, tranh chấp về di sản thừa kế, tranh chấp buộc người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại, tranh chấp về chia di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật, tranh chấp xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác… Trong tình huống nêu trên, tranh chấp được gọi là tranh chấp về chia di sản thừa kế giữa những người thừa kế. Cụ thể là tranh chấp di sản thừa kế giữa anh C, chị D và bà B về di sản thừa kế mà ông A để lại.

Di sản thừa kế là tài sản của người chết để lại cho những người còn sống. Theo quy định tại Điều 612 Bộ Luật dân sự: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.” Di sản thừa kế có thể là hiện vật, tiền, giấy tờ trị giá được thành tiền, quyền tài sản thuộc sở hữu của người để lại di sản.

Việc xác định di sản thừa kế mà người chết để lại căn cứ vào giấy tờ, tài liệu chứng minh quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp đối với khối tài sản đó. Đối với trường hợp di sản thừa kế là tài sản thuộc sở hữu chung thì việc xác định tài sản chung của người để lại di sản có thể dựa trên những thỏa thuận đã có từ trước hoặc căn cứ vào văn bản do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Theo quy định của pháp luật thì di sản bao gồm:

• Tài sản riêng của người đã chết, đây là tài sản người đó lập ra bằng thu nhập hợp pháp của mình lúc còn sống.

• Tài sản chung của người chết trong khối tài sản chung với người khác như: phần tài sản chung tạo lập được, phần tài sản chung trong kinh doanh, làm ăn, đầu tư….

Về di sản thừa kế mà ông A để lại gồm những tài sản như sau:

• Thứ nhất là 80 triệu đồng tiền mặt ông đang cất giữ

• Thứ hai 1/2 số tài sản chung mà ông A và bà T tạo dựng được.

• Ngôi nhà do ông A tạo dựng được trị giá 300 triệu đồng.

Tuy nhiên theo di chúc thì ông A quyết định riêng ngôi nhà trị giá 300 triệu đồng ông để lại cho bà T dùng làm nơi thờ cúng mà không chia thừa kế.

Như vậy di sản thừa kế để đem vào chia thừa kế của ông A là:

• triệu đồng + 600/2 triệu đồng = 380 triệu đồng.

Tại Điều 613 BLDS 2015 quy định về người thừa kế như sau: “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế..” Trong tình huống nêu trên thì anh C, chị D, bà T và anh E và chị F là những người thừa kế hợp pháp.

Do ông A chết có để lại di chúc nên di sản mà ông A để lại sẽ được chia theo cả di chúc và pháp luật.

Về phần di sản được chia theo di chúc

Trong trường hợp người chết để lại di chúc, nếu di chúc đó hợp pháp thì chia tài sản theo di chúc có hiệu lục pháp luật. Sau khi thanh toán mọi nghĩa vụ của người để lại di chúc, số di sản còn lại sẽ được phân chia theo di chúc đã quy định.

Tại Điều 624 BLDS 2015 có quy định về di chúc như sau: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Anh C được ông A để lại 1/2 di sản thừa kế trong tổng số tài sản mà ông A để lại;

Anh C được hưởng = 300 triệu đồng : 2 = 150 triệu đồng.

Bà T được hưởng ngôi nhà vì trong di chúc nói rõ ngôi nhà ông A để lại cho bà T làm nơi thờ cúng sau này.

Pháp luật Viên Nam tôn trọng ý chí của người để lại di sản nên nếu họ có để lại di chúc hợp pháp thì di sản sẽ được phân chia theo đúng ý trí mà người để lại di chúc đã xác định trong di chúc.

Về phần di sản được chia theo pháp luật

Trong trường hợp di sản không định đoạn bằng di chúc , hoặc có di chúc mà di chúc vô hiệu thì phần di sản sẽ được phân chia cho nhũng người thừa kế theo pháp luật. Trường hợp này di sản sẽ được chia đều cho những người thừa kế, nếu không có thỏa thuận gì khác.

Phân chia di sản theo pháp luật là phân chia cho những người thừa kế trong hàng thừa kế theo pháp luật được hưởng phần di sản ngang nhau không phân biệt giới tính, đổ tuổi,…. Quy định tại điều 660 BLDS năm 2015 như sau:

“Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

2. a) Không có di chúc;

3. b) Di chúc không hợp pháp;

4. c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

5. d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

6. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

7. a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

8. b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

9. c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

2. a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

3. b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

4. c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

5. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

6. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

Như vậy, tài sản còn lại của ông T để lại để chia theo pháp luật là: 150 triệu đồng. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Những người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật bao gồm: Anh C, chị D, bà T, anh E và chị H. Tuy nhiên anh C đã được hưởng di sản thừa kế theo di chúc nên anh C sẽ không được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật nữa. Và sẽ chỉ còn lại 4 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất và số di sản mà mỗi người sẽ được hưởng như sau:

D=T=E=H= 150 triệu : 4= 37,5 triệu đồng.

Về việc tranh chấp về ngôi nhà của anh C và bà T theo quy định của pháp luật ta thấy:

Trong di chúc của ông A có ghi rõ là về phần ngôi nhà để lại cho bà T để phục vụ cho việc thờ cúng và nuôi hai cháu E và cháu H. Vậy hành vi của anh C yêu cầu bà T sang tên nhà cho mình dẫn đến tình trạng xảy ra xô xát thương tích cho bà T. Hành vi của anh C là hoàn toàn trái pháp luật. Nếu bà T có yêu cầu anh C phải bồi thường về hành vi xô xát gây thương tích, thì trong trường hợp này anh C hoàn toàn phải chịu mức bồi thường mà bà T đưa ra.

Đến tháng 2/2018, chị D có đơn gửi tòa án yêu cầu chia di sản thừa kế của bố. Việc chị D có đơn yêu cầu tòa án chia di sản thừa kế của bố là hoàn toàn có căn cứ pháp luật. Chị D là con ruột của ông A và cũng là người trong hàng hưởng di chúc hợp pháp nên Chị D sẽ được nhận số tiền là 37,5 triệu đồng trong khối di sản thừa kế mà ông A để lại.

Nêu ý kiến về quy định pháp luật hiện hành và kiến nghị hoàn thiện nếu có thông qua việc xây dựng và giải quyết tình huống

Những bất cập trong giải quyết tranh chấp về phân chia di sản

Qua quá trình xây dựng và giải quyết tình huống, em nhận thấy việc pháp luật quy định về chế định thừa kế và việc giải quyết chia di sản thừa kế vẫn còn có những bất cập sau:

Việc quy định về người thừa kế

Pháp luật dân sự ghi nhận quyền thừa kế của cá nhân, tổ chức. Điều 613 BLDS quy định: “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.”

Tất nhiên, người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân, còn người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân hoặc tổ chức.

Hiểu như thế nào về “người còn sống vào thời điểm mở thừa kế”, đặc biệt trong trường hợp những người thừa kế chết mà không xác định được ai chết trước, ai chết sau.

Thực tế chỉ ra rằng, có nhiều trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau chết cách nhau một khoảng thời gian rất ngắn, vụ việc tranh chấp thừa kế một thời gian dài sau đó mới phát sinh, do vậy việc xác minh thời điểm chết của từng người rất khó khăn, tạo phức tạp trong quá trình giải quyết vụ án (có lẽ, trong những trường hợp này, căn cứ pháp lý duy nhất có thể tin cậy được là giấy chứng tử, nhưng trong nhiều trường hợp giấy chứng tử lại không ghi cụ thể giờ, phút chết của cá nhân).

Về thời hiệu khởi kiện.

Điều 623 BLDS 2015 quy định về thời hiệu yêu cầu chia thừa kế “Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế”. Trong thực tiễn, khi áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, có nhiều cách hiểu khác nhau về vấn đề này, nếu không có hướng dẫn cụ thể sẽ tạo tình trạng áp dụng không thống nhất khi xét xử các vụ án tranh chấp về thừa kế, đặc biệt là thừa kế quyền sử dụng đất.

Ngoài ra BLDS 2015 còn quy định: “thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu”. Do đó, quy định này dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, phải hiểu thời điểm mở thừa kế là thời điểm được xác định bằng giờ người để lại di sản chết, tại thời điểm đó xác định người thừa kế, di sản của người chết… để bảo vệ quyền lợi của những người thừa kế.

Về di sản thừa kế.

Theo quy định tại Điều 612 BLDS: Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản riêng của người chết trong tài sản chung với người khác. Quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế và được để lại thừa kế.

Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự tài sản gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Như vậy, quyền tài sản nằm trong khái niệm về tài sản. Cho nên cần phải hiểu khái niệm di sản còn bao gồm cả các quyền về tài sản như: quyền đòi bồi thường thiệt hại, quyền đòi nợ, quyền thừa kế giá trị… Một thực tế hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về di sản dẫn đến tình trạng các vụ án thực tế hiện nay phải xét xử lại do xác định di sản không chính xác và đầy đủ.

Giải pháp vấn đề giải quyết tranh chấp về phân chia tài sản thừa kế

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của cơ quan tư pháp trong đó có hoạt động áp dụng pháp luật trong lĩnh vựa phân chia tài sản. Nâng cao bản lính chính trị, và nâng cao kinh nghiệm của đội ngũ Thẩm phán và đội ngũ luật sư cũng như là công tố viên.

Nâng cao chất lượng trong việc giải quyết các tranh chấp di sản thừa kế tại các cơ sở có thẩm quyền (Tòa án nhân dân ) phải gắn liền với việc thực hiện đồng bộ các yêu cầu, nội dung xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.

Đổi mới công tác xét xử của Tòa án nhân dân ác cấp theo hướng dân chủ, tranh luận tại phiên tòa, thực hiện đầy đủ các nguyên tắc tố tụng.

Đi đôi với việc giải quyết tranh chấp di sản thừa kế tại tòa án phải gắn liền với nghĩa vụ phổ biến tuyên truyền , giáo dục nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân.

htv moi

Luật sư Trần Minh Hùng chuyên gia tư vấn luật trên kênh HTV, VTV, THVL1, ANTV, SCTV1...

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội. 

 Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hình uy tín như:  Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Truyền hình Công an ANTV, SCTV, THQH, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Truyền hình Quốc Hội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ đại án Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như và Viettinbank, Vụ cướp 35 tỷ Long Thành - Dầu giây, Chống thi hành công vụ mùa Covid, các vụ Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái... và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Chúng tôi cùng tư vấn luật và cố vấn pháp lý cho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước rất lâu năm.

Trân trọng cảm ơn!.

Luật sư tư vấn về tranh chấp tài sản thừa kế là đất đai

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Thừa Kế

1. Tư vấn về tranh chấp tài sản thừa kế là đất đai

Hỏi: Năm 2009 bố tôi mất để lại 1 mảnh đất.khi đó ông bà nội tôi sống trên mảnh đất đó (bìa đất mang tên bố tôi), năm 2011 bà nội tôi mất, trước khi mất bố tôi viết di chúc để lại mảnh đất đó cho 3 đứa con, nhưng nay di chúc đó đã ko còn. Mảnh đất của bố tôi là do ông bà nội cho, đến nay đã 7 năm sau khi bố tôi mất các cô xúi giục ông nội tôi (đã 82 tuổi) kiện 3 anh em tôi đòi chia.

ôi biết theo luật ông nội tôi chung hàng thừa kế thứ nhất như 3 anh em tôi, nhưng vì bố tôi đã có nguyện vọng để lại đất cho 3 anh em tôi đồng thời chúng tôi muốn mảnh đất còn nguyên vẹn sau khi ông nội mất xây từ đường thờ cúng tổ tên. Đặc biệt lí do ông nội tôi đòi chia tài sản cũng để lấy 1 phần đất xây từ đường, và nguyên nhân sâu xa là do các cô tôi hiện giờ đã bán hết đất của ông bà cho nên quay về quê nổi lòng tham chia đất của các cháu (ông bà tôi cho bố tôi mảnh đất cuối cùng gần như không có giá trị). Ông cụ già yếu rồi đang sống rất vui vẻ với 3 anh em tôi, không vì lí do gì để cụ kiện các cháu cả.tôi biết chắc chắn nếu để tòa xử thì phần đất ông nội được chia các cô sẽ lại bán nốt. Vậy có cách nào giải quyết để giữ nguyên mảnh đất của bố tôi để lại không, nó cũng là di nguyện cuối cùng của bố tôi (3 anh em tôi hiện tại và sau này cũng không ở trên mảnh đất đó).

Luật sư Gia Đình trả lời: Theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 trong trường hợp người chết không để lại di chúc hoặc di chúc không còn thì di sản sẽ được chia theo pháp luật.

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Như bạn đã biết 3 người con và ông nội bạn sẽ được hưởng phần di sản của bố bạn để lại. Như vậy thì hiển nhiên ông nội bạn sẽ được một suất thừa kế của bố bạn theo quy định của pháp luật mà không có bất cứ chủ thể nào ngăn cản được. Việc bạn muốn mảnh đất được nguyên vẹn thì phải được ông nội tặng cho 3 anh em vì trong trường hợp này đã quá thời gian để người thừa kế từ chối nhận di sản là 6 tháng kể từ ngày bố bạn mất.

"Điều 642. Từ chối nhận di sản

1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản; người từ chối phải báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản.

3. Thời hạn từ chối nhận di sản là sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế. Sau sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận thừa kế."

Vì đây là mâu thuẫn phát sinh trong một gia đình nên nếu có thể thỏa thuận thì gia đình bạn nên thỏa thuận không nên đưa ra Tòa để giải quyết vì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tình cảm gia đình và thủ tục, thời gian và tiền bạc để theo một vụ kiện là rất lớn. Bạn và các đồng thừa kế có thể thỏa thuận để giải quyết vụ việc một cách phù hợp nhất

2.Con ngoài giá thú có được hưởng thừa kế của bố mẹ?

Thừa kế tài sản là một trong những vấn đề được nhiều người quan tâm dù cho người có tài sản để lại đã chết hay chưa. . Hiện nay, về vấn đề này, có nhiều người còn băn khoăn về việc con ngoài giá thú có được hưởng tài sản thừa kế hay không. Nhà nước quy định luật về thừa kế đối với con ngoài giá thú dựa trên cơ sở pháp lý như thế nào? Về vấn đề này, trong phạm vi bài viết, đội ngũ luật sư và Luật sư Gia Đình sẽ đề cập đến nội dung “con ngoài giá thú có được hưởng thừa kế của bố mẹ hay không”.

Hiện nay, trong các văn bản pháp luật hiện hành, cụ thể là Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015 không có sự phân biệt giữa con ngoài giá thú hay con chung trong việc hưởng các quyền lợi cũng như thực hiện các nghĩa vụ giữa cha mẹ và con cái, hay các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật. Bởi cho dù con có được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp hay không, có phải là con ngoài giá thú hay không thì cũng không thể phủ nhận được mối quan hệ ruột thịt giữa cha mẹ đẻ và con đẻ, nhất là khi có đầy đủ chứng cứ, để xác lập quan hệ cha, mẹ con.

Nội dung bài viết cung cấp thông tin về con ngoài giá thú có được hưởng thừa kế của bố mẹ như sau:

Về quyền hưởng di sản thừa kế đối với con ngoài giá thú.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, khi một người chết đi, dù các quan hệ nhân thân, như quan hệ hôn nhân, và các quyền công dân của người này sẽ đương nhiên chấm dứt theo quy định của pháp luật thì quyền của người mất đối với tài sản vẫn được bảo vệ và trở thành nội dung về quyền thừa kế của những người thừa kế của họ. Tài sản, dù là bất động sản hay động sản, dù là hoàn toàn thuộc về người này hay người này chỉ sở hữu một phần tài sản thì khi người này chết đi, những tài sản này theo quy định tại Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015, đều được xác định là di sản thừa kế, dùng để phân chia thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật cho những người thừa kế hơp pháp của họ. Cụ thể:

Hiện nay, có hai trường hợp phân chia thừa kế như sau:

Trường hợp 1: Phân chia thừa kế theo di chúc:

Di chúc, dù thể hiện bằng hình thức nào, bằng miệng, hay bằng văn bản thì nó đều được xác định là sự thể hiện ý chí của một cá nhân đối với việc định đoạt, chuyển dịch tài sản cho người khác trước khi chết. Di chúc sẽ là cơ sở để phân chia di sản thừa kế (tài sản do người chết để lại) sau khi chủ sở hữu tài sản chết được xác định là di chúc hợp pháp và là di chúc cuối cùng do người đó lập trước khi chết.

Trường hợp người chủ sở hữu tài sản có để lại di chúc hợp pháp, thì việc con ngoài giá thú có được thừa hưởng tài sản do người này để lại trước khi chết hay không phụ thuộc vào ý nguyện của người này được thể hiện rõ trong nội dung di chúc. Bởi như đã phân tích, khi tồn tại di chúc hợp pháp do người chủ sở hữu tài sản trước khi chết thì việc phân chia tài sản là di sản thừa kế sẽ phải được định đoạt theo nội dung di chúc.

Trường hợp này việc phân chia thừa kế theo di chúc được thực hiện như sau:

+ Nếu trong nội dung di chúc của người mất thể hiện ý nguyện để lại tài sản của họ cho nhiều người thừa kế nhưng không xác định rõ các phần tài sản cho những người thừa kế, thì trường hợp này, di sản thừa kế sẽ được chia đều cho những người được định đoạt trong nội dung di chúc, trừ trường hợp những người thừa kế này có sự thỏa thuận khác. Trường hợp này, người con ngoài giá thú – nếu được chỉ định là người thừa kế theo di chúc thì họ cũng được hưởng phần thừa kế như những người khác được hưởng di sản theo nội dung di chúc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

+ Trường hợp, trong nội dung của di chúc mà người mất để lại đã có sự phân định rõ về phần di sản mà mỗi người thừa kế được hưởng từ tài sản của người mất để lại thì việc phân chia di sản thừa kế được xác định theo nội dung di chúc. Trường hợp này, nếu người con ngoài giá thú được chỉ định là một trong những người thừa kế theo di chúc thì họ cũng được hưởng phần thừa kế tương ứng với nội dung của di chúc – phù hợp với ý chí của người để lại di sản.

Tuy nhiên, cần lưu ý, trường hợp người con ngoài giá thú không phải là người được thừa kế được hưởng tài sản theo nội dung di chúc thì mặc dù pháp luật tuân thủ và tôn trọng nguyện vọng của người lập di chúc – người để lại tài sản trước khi chết, nhưng người con ngoài giá thú này vẫn có thể được hưởng di sản thừa kế nếu thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 644 Bộ luật dân sự năm 2015. Theo đó, nếu người con ngoài giá thú này là người chưa thành niên, hoặc là con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động của người mất – người để lại di sản thì mặc dù họ không phải là người được định đoạt trong nội dung di chúc, nhưng họ vẫn được hưởng ít nhất 2/3 suất của một người thừa kế nếu tài sản này được chia theo pháp luật.

Trường hợp 2: Phân chia thừa kế theo pháp luật:

Đối với việc phân chia thừa kế theo pháp luật, hiện nay theo quy định tại Điều 649, 650 Bộ luật Dân sự năm 2015, di sản thừa kế sẽ được phân chia thành các phần bằng nhau cho những người thừa kế theo pháp luật nếu người chết không để lại di chúc hoặc di chúc không hợp pháp hoặc những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc cùng thời điểm với người lập di chúc hoặc họ không có quyền được hưởng di sản, từ chối nhận di sản. Việc phân chia thừa kế theo pháp luật sẽ được xác định dựa trên hàng thừa kế và các quy định chung của bộ luật dân sự cụ thể:

Căn cứ theo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, di sản thừa kế sẽ được chia thừa kế theo pháp luật theo hướng chia đều thành các phần bằng nhau cho những người thuộc hàng thừa kế theo pháp luật theo thứ tự ưu tiên như sau:

+ Hàng thừa kế thứ nhất gồm những người là vợ hoặc chồng hợp pháp, cha và mẹ đẻ, cha mẹ nuôi hợp pháp của người chết (với điều kiện những người này còn sống tại thời điểm người để lại di sản chết); con đẻ của người chết; con nuôi hợp pháp của người chết.

+ Hàng thừa kế thứ hai là những người thừa kế là các ông bà bên nội, bên ngoại,cháu ruột của người có tài sản mà người chết là ông bà bên nội, bên ngoại của người cháu đó, anh chị, em ruột của nhau thì sẽ được hưởng thừa kế.

+ Hàng thừa kế thứ ba bao gồm những người như cậu, cô, dì, chú, bác của người có tài sản để lại thừa kế, cụ bên nội ngoại hoặc chắt của người để lại tài sản khi người chết là cụ của bên nội hoặc bên ngoại.

htvmoi11

Luật sư Trần Minh Hùng chuyên gia tư vấn luật trên kênh HTV, VTV, THVL1, ANTV, SCTV1...

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội. 

 Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hình uy tín như:  Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Truyền hình Công an ANTV, SCTV, THQH, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Truyền hình Quốc Hội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ đại án Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như và Viettinbank, Vụ cướp 35 tỷ Long Thành - Dầu giây, Chống thi hành công vụ mùa Covid, các vụ Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái... và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Chúng tôi cùng tư vấn luật và cố vấn pháp lý cho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước rất lâu năm.

Trân trọng cảm ơn!.

Luật sư tư vấn ủy quyền phân chia di sản thừa kế

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Thừa Kế

1. Trình tự, thủ tục hủy bỏ di chúc

c. Hủy bỏ di chúc là gì?

Hủy bỏ di chúc là việc người để lại di chúc, thông qua hành vi pháp lý hợp pháp để tuyên bố tiêu hủy. Hoặc không công nhận tất cả các di chúc do mình đã lập trước đó. Việc hủy bỏ di chúc là làm tiêu hủy hiệu lực pháp lý của di chúc trước. Nhưng không bao hàm cả việc đưa ra một di chúc mới.

b. Quyền thực hiện thủ tục hủy bỏ di chúc

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về sửa đổi, hủy bỏ di chúc:

Điều 640. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc

1. Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào.

2. Trường hợp người lập di chúc bổ sung di chúc thì di chúc đã lập và phần bổ sung có hiệu lực pháp luật như nhau. Nếu một phần của di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫn nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật.

Như vậy theo pháp luật công chứng thì khi sửa đổi, bổ sung thay thế hoặc hủy bỏ di chúc. Người lập di chúc có trách nhiệm thông báo với cơ quan công chứng biết điều đó.

Nếu di chúc đã được công chứng thì người mong muốn hủy bỏ di chúc cần đến bất cứ cơ quan có thẩm quyền công chứng. Đồng thời yêu cầu người có thẩm quyền hủy bỏ di chúc.

Trong trường hợp di chúc đang được lưu giữ tại văn phòng công chứng. Thì người hủy bỏ di chúc cần thông báo cho văn phòng đó biết về việc hủy bỏ di chúc.

c. Trình tự, thủ tục hủy bỏ di chúc

Hiện nay, chưa có quy định củ thể về trình tự, cách hủy bỏ di chúc. Mà chỉ có quy định về các phương thức hủy bỏ di chúc, bao gồm:

Hủy bỏ minh thị di chúc

Là việc người lập di chúc thể hiện ý chí công khai bằng một văn bản. Nói rõ về việc người lập di chúc không thừa nhận giá trị của di chúc do mình lập trước đó.

Người lập di chúc có thể hủy bỏ di chúc bằng hành vi cụ thể để tiêu hủy toàn bộ di chúc đã được lập. Ví dụ như: Xé bỏ, đốt bỏ hay tiêu hủy bằng hình thức khác làm cho di chúc không còn tồn tại trên thực tế.

Hủy bỏ mặc nhiên di chúc

Là trường hợp người để lại di chúc đã định đoạt tài sản đó bằng di chúc. Nhưng sau đó lại định đoạt đối với tài sản bằng môt hành vi pháp lý khác. Ví dụ: Tặng cho, mua bán, cầm cố thế chấp, hay dùng tài sản bảo lãnh cho một nghĩa vụ mà sau đó tài sản đã bị xử lý trả nợ. Thì hành vi này cũng được xem là hủy bỏ mặc nhiên (hủy bỏ gián tiếp) đối với di chúc đã lập.

2. Ủy quyền phân chia di sản thừa kế như thế?

Xin chào luật sư! Tôi xin có một vấn đề mong được luật sư giúp đỡ. Bố tôi mới mất chưa được 1 năm, lúc sống Bố tôi làm việc được công ty cấp nơi ở ( khu tập thể, ở trung phòng với 1 bác làm cùng và có 2 sổ đỏ riêng), giờ còn mẹ tôi, anh tôi và tôi. Ông bà nội tôi do mất lâu nên không còn giấy tờ gì nữa.

Bố tôi mât giấy khai sinh, có sổ đỏ ( quyền sử dụng đất), có hộ khẩu khác nơi mẹ tôi sống, còn giấy kết hôn và chứng minh thư. Do không có di chúc, bây giờ anh tôi và tôi muốn cho tặng quyền thừa kế cho mẹ tôi toàn quyền sở hữu và sử dụng căn hộ tập thể của bố tôi ? ( thủ tục này làm ở chỗ mẹ con tôi sống được không? ). Anh tôi với tôi nêu muốn làm giấy ủy quyền phân chia di sản và tăng quyền thừa kế cho mẹ tôi ở chỗ 3 mẹ con tôi sống mà không cần có mặt được không? Thiếu một số giấy tờ thì có làm giấy cam đoan đảm bảo được không?

Xin hỏi trình tự, thủ tục như thế nào ?

Luật sư Gia Đình trả lời:

Kính thưa Quý khách hàng, vấn đề của Quý khách chúng tôi xin giải đáp như sau:

1. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản, theo đó phải tiến hành tại nơi bố bạn cư trú cuối cùng hoặc nơi có toàn bộ hoặc phần lớn tài sản theo Bộ luật Dân sự năm 2015:

"Điều 611. Thời điểm, địa điểm mở thừa kế

1. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.

2. Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản."

2. Thủ tục ủy quyền.

Nếu anh bạn và bạn ở xa không thể về địa phương để tiến hành thủ tục phân chia di sản thừa kế thì có thể ủy quyền cho một người để thực hiện thủ tục này. Anh bạn và bạn có thể đến bất kỳ tổ chức công chứng nào nơi đang sinh sống để yêu cầu công chứng hợp đồng ủy quyền theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật Công chứng và văn bản hướng dẫn.

Theo quy định tại Điều 55, Luật Công chứng năm 2014

1. Khi công chứng các hợp đồng ủy quyền, công chứng viên có trách nhiệm kiểm tra kỹ hồ sơ, giải thích rõ quyền và nghĩa vụ của các bên và hậu quả pháp lý của việc ủy quyền đó cho các bên tham gia.

2. Trong trường hợp bên ủy quyền và bên được ủy quyền không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng thì bên ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng hợp đồng ủy quyền; bên được ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng tiếp vào bản gốc hợp đồng ủy quyền này, hoàn tất thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền.

Vì anh bạn và bạn ủy quyền thực hiện thủ tục phân chia di sản với nội dung: tặng cho toàn bộ phần di sản (quyền sử dụng đất) mà anh bạn và bạn được hưởng cho mẹ bạn nên phải lập thành hợp đồng ủy quyền.

Nhưng do anh bạn, bạn và người được hưởng di sản không thể đến cùng một tổ chức công chứng để công chứng hợp đồng ủy quyền này nên có thể thực hiện theo hướng dẫn tại Luật Công chứng năm 2014

“Trong trường hợp bên ủy quyền và bên được ủy quyền không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng thì bên ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi cư trú của họ công chứng hợp đồng ủy quyền; bên được ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng tiếp vào bản gốc hợp đồng ủy quyền này, hoàn tất thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền”.

3. Thủ tục khai nhận di sản thừa kế:

- Chủ thể tiến hành: Tất cả những người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của bố bạn.

Nếu chia di sản theo pháp luật thì những người thừa kế của bố bạn được xác định theo điểm a khoản 1 điều 676 Bộ luật Dân sự: Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Do đó ông bà bạn mất từ lâu và trước bố bạn vì vậy mẹ bạn và anh em bạn thuộc diện thừa kế.

- Cơ quan tiến hành: Bất kỳ tổ chức công chứng nào trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi có bất động sản.

- Bộ hồ sơ yêu cầu công chứng gồm:

+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền ở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

+ Giấy chứng tử của bố bạn;

+ Giấy tờ tùy thân của các thừa kế;

+ Những giấy tờ khác (như: giấy khai sinh của anh/chị/em bạn; giấy chứng tử của ông bà nội; giấy đăng ký kết hôn của bố mẹ bạn …).

- Thủ tục:

Sau khi kiểm tra hồ sơ thấy đầy đủ, phù hợp quy định của pháp luật, cơ quan công chứng tiến hành niêm yết công khai tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú trước đây của người để lại di sản; trong trường hợp không có nơi thường trú, thì niêm yết tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi tạm trú có thời hạn của người đó. Nếu không xác định được cả hai nơi này, thì niêm yết tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi có bất động sản của người để lại di sản.

Sau 15 ngày niêm yết, không có khiếu nại, tố cáo gì thì cơ quan công chứng chứng nhận văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế theo Điều 49 Luật Công chứng. Trong văn bản, những người thừa kế khác có thể tặng cho toàn bộ quyền hưởng di sản cho mẹ bạn để mẹ bạn trở thành chủ sở hữu căn hộ tập thể do bố bạn để lại.

Thủ tục sang tên mẹ bạn (theo Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai).

- Chủ thể tiến hành: Mẹ bạn.

- Cơ quan tiến hành: Văn phòng đăng ký đất đai.

- Hồ sơ:

+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

+ Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế;

+ Giấy tờ tùy thân của các thừa kế;

+ Những giấy tờ khác (như: giấy khai sinh của anh/chị/em bạn; giấy chứng tử của ông bà nội; giấy đăng ký kết hôn của bố mẹ bạn …).

- Trình tự, thủ tục:

+ Người sử dụng đất nộp 01 bộ hồ sơ thực hiện quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất.

+ Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu đủ điều kiện thực hiện các quyền theo quy định thì thực hiện các công việc sau đây:

Gửi thông tin địa chính đến cơ quan thuế để xác định và thông báo thu nghĩa vụ tài chính đối với trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định;

Xác nhận nội dung biến động vào Giấy chứng nhận đã cấp theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Trường hợp phải cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người sử dụng đất;

Chỉnh lý, cập nhật biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; trao Giấy chứng nhận cho người sử dụng đất hoặc gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để trao đối với trường hợp nộp hồ sơ tại cấp xã.

news 5547

Luật sư Trần Minh Hùng chuyên gia tư vấn luật trên kênh HTV, VTV, THVL1, ANTV, SCTV1...

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội. 

 Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hình uy tín như:  Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Truyền hình Công an ANTV, SCTV, THQH, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Truyền hình Quốc Hội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ đại án Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như và Viettinbank, Vụ cướp 35 tỷ Long Thành - Dầu giây, Chống thi hành công vụ mùa Covid, các vụ Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái... và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Chúng tôi cùng tư vấn luật và cố vấn pháp lý cho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước rất lâu năm.

Trân trọng cảm ơn!.

Giới Thiệu Luật Sư Trần Minh Hùng

link s75  

Với phương châm đặt chữ "Tâm" của nghề lên hàng đầu, chúng tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào sự công bằng và bảo vệ công lý cho xã hội. Là hãng luật uy tín thường xuyên tư vấn luật trên HTV, VTV, THVL, ANTV, VTC, SCTV, TH Cần Thơ, Đồng Nai và trên các tờ báo uy tín... Chúng tôi chuyên tư vấn, bào chữa cho khách hàng, thân chủ trên mọi lĩnh vực đất đai, thừa kế, hình sự, doanh nghiệp, ly hôn, công nợ, lao động, hợp đồng....

 

                                   LS TRẦN MINH HÙNG 


Hotline:0972238006