Yếu tố cấu thành tội đánh bạc là như thế nào?
Luật sư tư vấn:
Yếu tố cấu thành tội đánh bạc là như thế nào?
2.2 Đồng phạm là như thế nào?
2.3 Căn cứ quyết định hình phạt là như thế nào?
2.4 Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là gì?


Quyền được thuê Luật sư bào chữa cho mình trong các vụ án hình sự đã được quy định cụ thể Bộ luật tố tụng hình sự 2003 và hiến pháp 2013, cụ thể như sau: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư bào chữa hoặc người khác bào chữa”.
Đây là câu hỏi mà nhiều khách hàng, đương sự, bị can, bị cáo còn băn khoăn khi nghĩ tới việc thuê luật sư tham gia bào chữa trong các vụ án hình sự. Đa số đều giống nhau về suy nghĩ khi đặt ra vấn đề thuê luật sư, các câu hỏi thường gặp là:
– Chi phí thuê luật sư như thế nào? Thuê luật sư có tốn kém không?
– Liệu thuê luật sư có đáng tiền không và có nên tin tưởng luật sư hay không?
– Luật sư sẽ làm những gì để giúp mình?
– Kết quả đạt được khi thuê luật sư là như thế nào?
– Thậm chí sợ Luật sư và các cơ quan tố tụng mắc ngoặc nhau?
Và rất nhiều câu hỏi cần lời giải đáp thỏa đáng từ phía khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ Luật sư. Những băn khoăn của khách hàng, đương sự, bị can, bị cáo như trên là hoàn toàn có cơ sở và chính đáng. Thế nhưng, việc suy nghĩ như trên đều xuất phát từ việc chưa hiểu, đánh giá đầy đủ, thỏa đáng và hiểu được vai trò của Luật sư trong các vụ án hình sự. Thực tiễn, vai trò Luật sư hiện nay rất quan trọng trong Tố tụng hình sự, bào chữa cho các bị can/bị cáo, cụ thể như sau:
– Tất cả các bị can/bị cáo, đương sự trong vụ án hình sự không hiểu biết hết về hành vi phạm tội, tính chất mức độ, việc giải quyết của cơ quan tố tụng. Không tự trình bày được các luận điểm hay tranh luận với các cơ quan tiến hành tố tụng.
– Luật sư giúp bị can/bị cáo, người nhà bị can/bị cáo hiểu, nắm bắt được các quy định pháp luật liên quan đến tội danh bị truy cứu trách nhiệm hình sự, các quy trình tố tụng, thời gian, quá trình giải quyết. Giúp cho khách hàng của mình hiểu một cách tổng thể nhất về việc giải quyết vụ án. Tránh tối đa việc tốn kém chi phí không cần thiết, an tâm, suy nghĩ sáng suốt khi giải quyết công việc cho bị can/bị cáo và người nhà.
– Trấn an tinh thần, giúp bị can/bị cáo, người nhà bị can/bị cáo yên tâm, bình tĩnh suy xét, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả pháp lý của các hành vi vi phạm pháp luật mà cơ quan tiến hành tố tụng đang xử lý.
– Giúp cho khách hàng, bị can/bị cáo đưa ra các định hướng, phương pháp khắc phục hậu quả, thu thập các tài liệu, chứng cứ minh oan, giảm nhẹ hình phạt hoặc tìm ra sự thật khách quan của vụ án.
– Gặp gỡ, kiến nghị, đấu tranh với các cơ quan tố tụng để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, các tình tiết, hồ sơ, hành vi, diễn biến hành vi phạm tội. Để cơ quan tiến hành tố tụng có cách nhìn nhận, đánh giá khách quan, toàn diện, chính xác nội dung vụ án, tránh tình trạng oan, sai, xử quá nặng cho các bị can/bị cáo.
– Trong trường hợp bị can/bị cáo bị tạm giam, Luật sư sẽ gặp trực tiếp bị can/bị cáo trong trại tạm giam hoặc phối kết hợp với cơ quan tiến hành tố tụng hỏi cung để làm sáng tỏ sự thật khách quan vụ án.
– Trực tiếp bào chữa cho bị can/bị cáo tại các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm. Luật sư đưa ra luận cứ, luận điểm, đấu tranh với Hội đồng xét xử, Viện kiểm sát.
Đối với vụ án hình sự, Luật sư càng vào sớm sẽ có tác dụng trong việc chứng minh sự thật khách quan khi hồ sơ chưa bị khép, cơ quan điều tra đang chứng minh, làm sáng tỏ tình tiết, hành vi, nội dung vụ án. Hạn chế tối đa nhất việc oan, sai hoặc áp dụng hình phạt quá nặng trong việc giải quyết các vụ án hình sự. Điều quan trọng giúp cho bị can/bị cáo và người nhà tránh tối đa lãng phí chi phí không cần thiết và đạt được hiệu quả tối đa trong khi giải quyết công việc.
– Theo Khoản 1, Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự thì người bào chữa có thể là: Luật sư, Người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo, người bị tạm giữ và Bào chữa viên nhân dân. Tuy nhiên, thực tế trong các vụ án hình sự thì người có quyền bào chữa là Luật sư khi được bị can/bị cáo hoặc người nhà mời và được chấp thuận của cơ quan tiến hành tố tụng.
– Để cụ thể hóa các quyền của Luật sư khi tham gia bào chữa thì Khoản 2 Điều 58 Bộ Luật tố tụng hình sự quy định quyền của Luật sư như sau:
a) Có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;
b) Đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can;
c) Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này;
d) Thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác;
đ) Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
e) Gặp người bị tạm giữ; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam;
g) Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật;
h) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên toà;
i) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
k) Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57 của BLTT Hình sự....
Trân trọng.

LS TRẦN MINH HÙNG
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK
BẢN ÁN 44/2018/HS-ST NGÀY 09/02/2018 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH
Ngày 09/02/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2018/TLST-HS ngày 03/01/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2018/QĐXXST-HS ngày29/01/2018 đối với các bị cáo:
Lê Văn C; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 12/8/1979; Tại: Phú Yên; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn 3, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Thợ mộc; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn H, (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; có vợ Trần Thị Tuyết M và 03 con; Tiền sự: không, tiền án: Không; bị bắt, tạm giam ngày 08/12/2017 cho đến nay. Có mặt
- Bị hại: Trần Bảo L – sinh năm 1985
Địa chỉ: Thôn 3, xã H, TP. B, tỉnh ĐăkLăk. (Có mặt)
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Trần Thị Tuyết M, sinh năm 1980
Địa chỉ: Thôn 3, xã H, TP. B, tỉnh ĐăkLăk.(Có mặt)2. Bà Trần Kim P, sinh năm 1972
Địa chỉ: Thôn 3, xã H, TP. B, tỉnh ĐăkLăk.(Có mặt)
3. Ông Đặng Ngọc V, sinh năm 1995
Địa chỉ: Thôn 3, xã H, TP. B, tỉnh ĐăkLăk.(Có mặt)
4. Ông Lê Văn S, sinh năm
Địa chỉ: Thôn 3, xã H, TP. B, tỉnh ĐăkLăk.(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17h30’ ngày 07/12/2017, Lê Văn C đi nhậu về nhà tại thôn 3, xã H, thành phố B thì xảy ra mâu thuẫn ghen tuông và xô xát qua lại với vợ là chị Trần Thị Tuyết M thì được anh Đặng Ngọc V là cháu của chị M cáo ngăn. Đến khoảng 20h30’ cùng ngày, chị M dẫn 02 đứa con đi qua nhà chị ruột là chị Trần Kim P cách nhà vợ chồng C khoảng 50 m. Do bực tức với chị M nên C đi ra xưởng gỗ trước sân nhà lấy 01 chiếc máy cưa lốc (loại máy cưa cầm tay chạy bằng xăng dùng để cưa gỗ) rồi chạy qua nhà chị P để đuổi đánh chị M, C vừa chạy vừa giật nổ máy cưa lốc. Khi thấy C cầm máy cưa lốc đã nổ máy chạy qua, thì chị M và anh V bỏ chạy ra phía sau nhà của chị P, còn chị P thì chạy về phía nhà anh Trần Bảo L là em ruột của chị P và chị M cách nhà chị P khoảng 50 m. Thấy vậy thì C tiếp tục cầm máy cưa lốc đuổi theo chị P, do thấy C đuổi theo nên chị P vừa chạy vừa hô lên “L ơi, L ơi”. Lúc này, anh L đang đứng trước sân nhà thì nghe thấy tiếng gọi của chị P và quay lại nhìn thấy C đang cầm máy cưa lốc đuổi theo chị P. Thấy vậy, anh L chạy ra bên hông nhà lấy 01 cái cuốc (loại cuốc có cán bằng tre và lưỡi cuốc bằng kim loại dùng để cuốc cỏ) rồi cầm cuốc chạy về phía C đang chạy đến để đánh nhau với C. Khi anh L và C chạy đến cách nhau khoảng 03 m thì anh L bị trượt chân té nằm ngửa xuống dưới đất, cùng lúc này C tay trái cầm máy cưa lốc đã nổ máy, còn tay phải thì kéo tay ga để lưỡi cưa quay rồi đưa phần lưỡi cưa đang quay hướng từ trên xuống phía người anh L. Thấy vậy, anh L giơ tay trái lễn đỡ thì bị lưỡi cưa của máy cưa lốc cắt trúng tay gây thương tích. Lúc này, anh L đứng dậy và bỏ chạy về nhà sơ cứu vết thương rồi được gia đình đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk. Còn C cầm máy cưa lốc quay lại trước nhà chị P thì gặp anh V nên tiếp tục đuổi đánh anh V thì anh V bỏ chạy, trong lúc bỏ chạy thì anh V nhặt đá bên đường ném lại C nhưng không trúng. Sau đó, cháu Lê Văn S là con trai của C điều khiển xe Mô tô chở C đến Công an xã H, thành phố B đầu thú và giao nộp chiếc máy cưa lốc hiệu FUJIKAWA màu đỏ - vàng là hung khí để gây thương tích cho anh L, để xử lý.
Tại bản Kết luận pháp y thương tích số 24/PY-TgT, ngày 8/12/2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk, kết luận: anh Trần Bảo L bị đa thương, gãy thân xương trụ nhiều mảnh, đứt gân cơ duỗi ngón 1, 2, 3, 4, 5 tay trái, tỷ lệ thương tích 28%. Vật tác động: Cứng, có cạnh sắc.
Tại bản Kết luận pháp y thương tích bổ sung số 148/PY-TgT, ngày 09/01/2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk, kết luận: anh Trần Bảo L bị đa thương, gãy thân xương trụ nhiều mảnh, đứt gân cơ duỗi ngón 1, 2, 3, 4, 5 tay trái và đứt bó mạch thần kinh trụ trái, tỷ lệ thương tích 35%. Vật tác động: Cứng, có cạnh sắc.
Anh Trần Bảo L đã kê khai và yêu cầu bị cáo Lê Văn C bồi thường các khoản gồm:
Chi phí điều trị: 9.000.000đồng;
Tiền mất thu nhập: 90 ngày x 200.000đồng/ngày = 18.000.000đồng; Tiền công chăm sóc: 20 ngày x 200.000đồng/ngày = 4.000.000đồng; Tiền tổn thất tinh thần: 10.000.000đồng;
Tổng cộng: 41.000.000đồng.
Chị Trần Thị Tuyết M là vợ của bị cáo Lê Văn C đã tự nguyện bồi thường cho anh Trần Bảo L số tiền 9.500.000 đồng. Anh L đã nhận số tiền trên và không yêu cầu bị cáo C phải bồi thường thêm một khoản chi phí nào khác.
Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKS TP.BMT ngày 23/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Lê Văn C về tội “ Cố ý gây thương tích” điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật dân sự 2015.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS 2015 đê tuyên bố bi cao Lê Văn C pham tôi “Cố y gây thương tich” va xư phat bi cao tư 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù giam.
Các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 1 Điều 106 BLHS..
+ Chị Trần Thị Tuyết M là vợ của bị cáo Lê Văn C đã tự nguyện bồi thường cho anh Trần Bảo Lsố tiền 9.500.000 đồng. Anh L đã nhận số tiền trên và không yêu cầu bị cáo C phải bồi thường thêm một khoản chi phí nào khác.
+ Đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước chiếc máy cưa lốc hiệu FUJIKAWA màu đỏ - vàng mà bị cáo C đã sử dụng làm hung khí gây thương tích cho anh Trần Bảo L.
+ Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 cuốc (cán bằng tre, lưỡi bằng sắt) dùng để cuốc cỏ là hung khí mà anh Trần Bảo Lsử dụng làm hung khí để đánh nhau với bị cáo Lê Văn C
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo không tranh luận gì thêm mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng một mức án nhẹ nhất vì bị cáo đã ăn năn hối hối hận về hành vi phạm tội của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Văn C tai phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người biết sự việc và phù hợp với các tài liệu,chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận: Do ý thức coi thường sức khỏe của người khác, nên vào khoảng 20h30’ ngày 07/12/2017, tại thôn 3, xã H, thanh phố B. Lê Văn C đã dùng 01 máy cưa lốc hiệu FUJIKAWA màu đỏ - vàng đã nổ máy cưa vào tay trái của anh Trần Bảo L. Tại bản Kết luận pháp y thương tích số 24/PY-TgT, ngày 8/12/2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk, kết luận: anh Trần Bảo L bị đa thương, gãy thân xương trụ nhiều mảnh, đứt gân cơ duỗi ngón 1, 2, 3, 4, 5 tay trái, tỷ lệ thương tích 28%. Vật tác động: Cứng, có cạnh sắc.Tại bản Kết luận pháp y thương tích bổ sung số 148/PY-TgT, ngày 09/01/2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk, kết luận: anh Trần Bảo Lbị đa thương, gãy thân xương trụ nhiều mảnh, đứt gân cơ duỗi ngón 1, 2, 3, 4, 5 tay trái và đứt bó mạch thần kinh trụ trái, tỷ lệ thương tích 35%. Vật tác động: Cứng, có cạnh sắc là đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Hanh vi pham tôi cua bi cao va thơi điêm pham tôi cua bi cao thi tôi pham va hinh phat đươc quy đinh tai điểm a khoản 1, khoan 3 Điều 104 blhs 1999 va tương ưng vơi điêm c khoan 3 Điều 134 Bô luât hinh sư năm 2015 đa đươc sưa đôi bô sung năm 2017 va theo Bộ luật hình sự năm 2015 quy đinh hinh phat co lơi hơn cho bi cao.
Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Lê Văn C về tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm ….;
.................................................
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.
Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo không những xâm hại đến sức khỏe của anh Trần Bảo L mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được rằng tính mạng, sức khỏe của con người là vốn quý, được pháp luật quan tâm bảo vệ, mọi hành vi xâm hại trái pháp luật đều bị trừng trị nghiêm khắc; cần cach ly bi cao ra khoi đơi sống xa hôi môt thơi gian, co như vây mơi phat huy tốt tinh giao duc, răn đe va phong ngưa chung trong toan xa hôi.
Tuy nhiên, sau khi phạm tội, bị cáo đã ra đầu thú; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cai về hanh vi pham tôi cua minh, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho người bị hại; tại phiên tòa hôm nay người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS cần áp dụng khi lương hinh nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.
[2] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 590 Bộ luật dân sự 2015.
Chấp nhận việc chị Trần Thị Tuyết M là vợ của bị cáo Lê Văn C đã tự nguyện bồi thường cho anh Trần Bảo L số tiền 9.500.000 đồng. Anh L đã nhận số tiền trên và không yêu cầu bị cáo C phải bồi thường thêm một khoản chi phí nào khác.
[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước chiếc máy cưa lốc hiệu FUJIKAWA màu đỏ - vàng mà bị cáo C đã sử dụng làm hung khí gây thương tích cho anh Trần Bảo L.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 cuốc (cán bằng tre, lưỡi bằng sắt) dùng để cuốc cỏ là hung khí mà anh Trần Bảo Lsử dụng làm hung khí để đánh nhau với bị cáo Lê Văn C
[4] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Văn C phai chiu an phi hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 3 Điều 7, điểm a khoản 1; điểm c khoản 3 Điều 134, điểm a khoản 1 Điều 47; Điều 48 ; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017; Điều 136; Điểm a Khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 590 Bộ luật dân sự; Điều 21, Điều 22 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn C phạm tội “ Cố ý gây thương tích”
Xử phạt: Lê Văn C 06 (Sáu) năm tù giam
Thời hạn chấp hành hình phạt tù: Tính từ ngày bị bắt ngày 08/12/2017
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc chị Trần Thị Tuyết M là vợ của bị cáo Lê Văn C đã tự nguyện bồi thường cho anh Trần Bảo L số tiền 9.500.000 đồng. Anh L đã nhận số tiền trên và không yêu cầu bị cáo C phải bồi thường thêm một khoản chi phí nào khác.
Về xử lý vật chứng:
+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước chiếc máy cưa lốc hiệu FUJIKAWA màu đỏ - vàng mà bị cáo C đã sử dụng làm hung khí gây thương tích cho anh Trần Bảo L.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 cuốc (cán bằng tre, lưỡi bằng sắt) dùng để cuốc cỏ là hung khí mà anh Trần Bảo L sử dụng làm hung khí để đánh nhau với bị cáo Lê Văn C
( Đặc điểm như biên bản giao nhận tài sản, tang vật ngày 01/02 /2018 giữa cơ quan điều tra Công an Tp. B với Chi cục thi hành án dân sự Tp. B)
Về an phi hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Văn C phai chiu 200.000 đồng an phi hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người co quyền lơi nghia vu liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông quangày 17 tháng 10 năm 2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số 07/2018/HS-GĐT ngày 20-3-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Giết người” đối với bị cáo Nguyễn Văn H, sinh năm 1977; trú tại phố A, thị trấn C, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Bị hại: Ông Dương Quang Q.
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 1 phần “Nhận định của Tòa án”.
Khái quát nội dung của án lệ:
- Tình huống án lệ:
Trong vụ án có đồng phạm, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt, các đồng phạm đã rủ nhau đánh dằn mặt bị hại.
Khi thực hiện tội phạm, người thực hành dùng mã tấu chém liên tiếp vào vùng đầu, mặt, chân, tay của bị hại; việc bị hại không chết là ngoài ý muốn chủ quan của người thực hành.
Người xúi giục không có mặt khi người thực hành thực hiện tội phạm, không biết việc người thực hành sử dụng mã tấu chém vào những vùng trọng yếu trên cơ thể bị hại nhưng đã để mặc cho hậu quả xảy ra.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, người thực hành phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” với tình tiết định khung là “Có tính chất côn đồ”. Người xúi giục bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” nhưng không bị áp dụng tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ”.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
- Điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 (tương ứng điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015);
- Khoản 2 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 (tương ứng với khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015).
Từ khóa của án lệ:
“Đồng phạm”; “Có tính chất côn đồ”; “Vùng trọng yếu trên cơ thể”; “Người thực hành”; “Người xúi giục”; “Tội giết người”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng 08h ngày 13-01-2015, do có mâu thuẫn trong sinh hoạt nên xảy ra xô xát giữa các con của ông Dương Quang Q là Dương Quang T, Dương Quang R và Dương Quang K với ông Dương Quang H, Dương Quang L và Nguyễn Văn H. Các con của ông Q dùng tay, chân đấm đá vào người ông Dương Quang H làm ông H bị xây xát nhẹ. Thấy bố vợ là ông Dương Quang H bị các con của ông Q đánh, Nguyễn Văn H gọi điện báo cho Trần Quang V (là con rể của ông H). Biết tin bố vợ bị đánh, V đi từ Hà Tĩnh về Thừa Thiên Huế và rủ thêm Phạm Nhật T cùng đi đánh ông Q. Khi đi, V và T lấy ở nhà T 02 cây mã tấu, bỏ vào túi vợt cầu lông rồi mang theo. Khoảng 16 giờ ngày 19-01-2015, V chở T đến thị trấn Lăng Cô và gọi điện cho H đến nhậu cùng. Tại quán nhậu H nói với V “Ba bị đánh thương lắm, giờ vẫn còn đau”. V hỏi H địa chỉ nhà ông Q ở đâu và đặc điểm nhận dạng ông Q như thế nào. Nghe H nói xong, V nói với T “Tý nữa nhậu xong tau với mi đi đánh lại”, H nói “Nếu đánh thì đánh dằn mặt thôi”. Sau đó, H về trước, V và T vẫn tiếp tục nhậu.
Khoảng 17 giờ 45 phút, khi đang thanh toán tiền, Trần Quang V nói với Phạm Nhật T “Có gì tao vào đánh, người dân ra thì mi chặn lại”, T đồng ý và lên xe máy để V chở đến nhà ông Q. Sau khi chạy vòng quanh nhà ông Q, biết ông Q không có ở nhà, V dừng xe ở một chỗ vắng người, lấy vải nilon che biển số xe rồi chở T đi lên cầu Lăng Cô đứng đợi. Đến khoảng 18 giờ, V chở T vòng xe quay lại đến trước nhà ông Q và nhìn thấy ông Q đang cúi người mở cổng. V dừng xe mở túi vợt cầu lông lấy ra 01 cây mã tấu có lưỡi hình răng cưa rồi chạy đến chém liên tiếp vào đầu, mặt, lưng, chân và tay ông Q làm ông Q bị ngã gục xuống đất. Do nhiều người dân xung quanh nhìn thấy hô hoán và chạy đến nên T cầm mã tấu đe dọa, ngăn chặn tạo điều kiện cho V chạy đến chỗ để xe máy và nổ máy tẩu thoát. Khi đến gần đèo Phú Gia, V gọi điện thoại cho H hỏi về tình trạng thương tích của ông Q. H hỏi lại V “Thế em có chém ông Q không? Ông Q đi Bệnh viện rồi”. Gọi điện thoại cho H xong V gọi điện cho Dương Quang L nói “Anh vừa mới chém ông Q xong! Em ở đâu, về cất 02 cây mã tấu cho anh!”. Nghe V điện xong L ra đường đứng đợi V và T đến. T đưa cho L túi vợt cầu lông đựng 02 cây mã tấu nhờ L cất giấu rồi V tiếp tục chở T về nhà của V và ngồi uống bia với T. Sau khi L đưa túi đựng 02 cây mã tấu về nhà nhờ ông Dương Quang H cất hộ, ông H đem túi này sang nhà bếp của ông Hồ T (bố vợ của ông H) cất giấu. Ông Dương Quang Q được người dân đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện thành phố Đà Nẵng đến ngày 03-02-2015 thì được ra viện.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 26-15/TgT ngày 28-01-2015, Trung tâm giám định pháp y tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận: Ông Dương Quang Q bị đa vết thương phần mềm vùng đầu, vai trái, khuỷu tay trái, đùi trái, để lại sẹo không ảnh hưởng chức năng 3%; vết thương phần mềm vùng mặt ít ảnh hưởng chức năng 8%; chấn thương gãy 04 răng cửa R1.1,1.2,1.3, 3.3; 2 răng hàm nhỏ 1.4,1.5; răng hàm 1.6 và 1.7 đang điều trị, hiện mất chức năng răng đối diện 20%; vết thương đứt gần lìa 1 bàn tay trái đã phẫu thuật tái tạo, hiện còn điều trị chưa đánh giá được di chứng chức năng 8%; vết thương đứt lìa ngón 2 và 3 bàn tay trái 25%; tỷ lệ tổn thương cơ thể chung là 51%; vật gây thương tích các tổn thương trên là vật sắc nặng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2016/HSST ngày 23-5-2016, Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93; các điểm b và p khoản 1 Điều 46; Điều 47; Điều 18; khoản 3 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt Nguyễn Văn H 07 năm tù về tội “Giết người”.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác, về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, Nguyễn Văn H có đơn kháng cáo đề nghị xem xét lại tội danh và xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 217/2016/HSPT ngày 02-8-2016, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng quyết định: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H; áp dụng khoản 2 Điều 104; các điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 20; Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt Nguyễn Văn H 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Tại Kháng nghị giám đốc thẩm số 13/2017/KN-HS ngày 03-7-2017, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Bản án hình sự phúc thẩm số 217/2016/HSPT ngày 02-8-2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về phần tội danh và hình phạt đối với Nguyễn Văn H; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên về phần tội danh và hình phạt đối với Nguyễn Văn H để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì: Sau khi chứng kiến việc bố vợ là ông Dương Quang H bị các con của ông Dương Quang Q đánh, Nguyễn Văn H là người trực tiếp gọi điện báo cho Trần Quang V biết việc ông H bị đánh. Trong lúc ăn nhậu cùng V và Phạm Nhật T vào tối ngày 19-01-2015, biết V và T có ý định đi đánh ông Q để trả thù, H nói “Ba bị đánh thương lắm, chừ còn đau”, làm củng cố ý thức, quyết tâm của V trong việc đi đánh ông Q. H cũng là người chỉ nơi ở, đặc điểm nhận dạng của ông Q cho V và T biết để V và T có thể thực hiện hành vi đánh ông Q. Khi nghe V và T bàn bạc kế hoạch đi đánh ông Q, H không can ngăn mà còn nói “Nếu đánh thì đánh dằn mặt thôi”, thể hiện sự thống nhất ý chí về việc đánh ông Q. Sau đó, H bỏ về trước. Thực tế, Trần Quang V đã dùng mã tấu chém liên tiếp vào vùng đầu, mặt, chân, tay ông Q làm ông Q gục ngay tại chỗ. Do mọi người can ngăn và được đưa đi cấp cứu kịp thời nên ông Q không chết là ngoài ý muốn chủ quan của V. Sau khi chém ông Q, V đã gọi liên tiếp ba cuộc điện thoại cho H để hỏi về thương tích của ông Q. Mặc dù, H không biết trước việc V dùng mã tấu chém liên tiếp vào những vùng trọng yếu trên cơ thể ông Q, có thể tước đoạt tính mạng của ông Q nhưng H đã thống nhất ý chí với V và T trong việc đánh ông Q, chấp nhận hậu quả xảy ra. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết án Nguyễn Văn H đồng phạm với Trần Quang V và Phạm Nhật T về tội “Giết người” là có căn cứ. Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm kết án Nguyễn Văn H theo điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 với tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” là không đúng, bởi vì: Trong vụ án này Trần Quang V và Phạm Nhật T là người trực tiếp thực hiện hành vi đánh ông Q; chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong sinh hoạt với các con của ông Q mà V và T đã dùng mã tấu chém nhiều nhát vào những vùng trọng yếu trên cơ thể của ông Q nên chỉ hành vi phạm tội của V và T “Có tính chất côn đồ”, còn Nguyễn Văn H không trực tiếp tham gia đánh ông Q mà giúp sức cho V và T trong việc đánh ông Q nên hành vi phạm tội của H không “Có tính chất côn đồ” mà chỉ thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999.
[2] Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: Việc Trần Quang V sử dụng mã tấu chém vào đầu, mặt ông Dương Quang Q là hành vi vượt quá ý chí của Nguyễn Văn H nên H không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” mà chỉ chịu trách nhiệm hình sự đối với hậu quả thực tế xảy ra với ông Q, từ đó sửa bản án hình sự sơ thẩm, chuyển tội danh cho H từ tội “Giết người” sang tội “Cố ý gây thương tích” là sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật. Đồng thời, Tòa án cấp phúc thẩm đã quá nhấn mạnh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, xử phạt Nguyễn Văn H 03 năm tù là đánh giá không đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, không có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 388 và Điều 391 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Hủy Bản án hình sự phúc thẩm số 2107/2016/HSPT ngày 02-8-2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về phần tội danh và hình phạt đối với Nguyễn Văn H, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“[1] Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì: Sau khi chứng kiến việc bố vợ là ông Dương Quang H bị các con của ông Dương Quang Q đánh, Nguyễn Văn H là người trực tiếp gọi điện báo cho Trần Quang V biết việc ông H bị đánh. Trong lúc ăn nhậu cùng V và Phạm Nhật T vào tối ngày19-01-2015, biết V và T có ý định đi đánh ông Q để trả thù, H nói “Ba bị đánh thương lắm, chừ còn đau”, làm củng cố ý thức, quyết tâm của V trong việc đi đánh ông Q. H cũng là người chỉ nơi ở, đặc điểm nhận dạng của ông Q cho V và T biết để V và T có thể thực hiện hành vi đánh ông Q. Khi nghe V và T bàn bạc kế hoạch đi đánh ông Q, H không can ngăn mà còn nói “Nếu đánh thì đánh dằn mặt thôi”, thể hiện sự thống nhất ý chí về việc đánh ông Q. Sau đó, H bỏ về trước. Thực tế, Trần Quang V đã dùng mã tấu chém liên tiếp vào vùng đầu, mặt, chân, tay ông Q làm ông Q gục ngay tại chỗ. Do mọi người can ngăn và được đưa đi cấp cứu kịp thời nên ông Q không chết là ngoài ý muốn chủ quan của V. Sau khi chém ông Q, V đã gọi liên tiếp ba cuộc điện thoại cho H để hỏi về thương tích của ông Q. Mặc dù, H không biết trước việc V dùng mã tấu chém liên tiếp vào những vùng trọng yếu trên cơ thể ông Q, có thể tước đoạt tính mạng của ông Q nhưng H đã thống nhất ý chí với V và T trong việc đánh ông Q, chấp nhận hậu quả xảy ra. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết án Nguyễn Văn H đồng phạm với Trần Quang V và Phạm Nhật T về tội “Giết người” là có căn cứ. Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm kết án Nguyễn Văn H theo điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 với tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” là không đúng, bởi vì: Trong vụ án này Trần Quang V và Phạm Nhật T là người trực tiếp thực hiện hành vi đánh ông Q; chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong sinh hoạt với các con của ông Q mà V và T đã dùng mã tấu chém nhiều nhát vào những vùng trọng yếu trên cơ thể của ông Q nên chỉ hành vi phạm tội của V và T “Có tính chất côn đồ”, còn Nguyễn Văn H không trực tiếp tham gia đánh ông Q mà giúp sức cho V và T trong việc đánh ông Q nên hành vi phạm tội của H không “Có tính chất côn đồ” mà chỉ thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999.”
Án lệ có hiệu lực ngày 03/12/2018
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số 16/2018/HS-GĐT ngày 25-9-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” đối với bị cáo Trần Văn C, sinh năm 1991.
- Bị hại: Anh Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1994 (đã chết).
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 1 phần “Nhận định của Tòa án”.
Khái quát nội dung của án lệ:
- Tình huống án lệ:
Bị hại đã thực hiện một chuỗi hành vi trái pháp luật tấn công bị cáo liên tục, kéo dài làm cho bị cáo bị ức chế tâm lý, kích động về tinh thần. Trong trạng thái bị mất khả năng tự chủ, bị cáo dùng dao đâm bị hại nhằm thoát khỏi sự tấn công. Bị cáo không nhận thức hết được tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà mình đã thực hiện. Hậu quả dẫn đến bị hại chết.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, bị cáo phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
Khoản 1 Điều 95 Bộ luật Hình sự năm 1999 (tương ứng với khoản 1 Điều 125 Bộ luật Hình sự năm 2015).
Từ khóa của án lệ:
“Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”; “Bị kích động mạnh về tinh thần”; “Mất khả năng tự chủ”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 03-11-2016, Trần Văn C đang chơi game ở quán Internet “Su Su” thuộc thôn 1A, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Lắk thì bạn là anh Nguyễn Hồng Q gọi điện thoại hỏi C đang ở đâu. Khi biết C đang chơi game ở quán Internet, anh Q cũng đến và vào chơi ở máy số 6. Trong lúc chơi game, anh Q nhiều lần đến chỗ C ngồi hỏi mượn tiền, nhưng C nói không có tiền. Một lúc sau, anh Q đến chỗ C đưa 02 chiếc điện thoại di động của mình nói C cầm cố để mượn tiền, C vẫn không đồng ý nên anh Q bỏ về chỗ của mình tiếp tục ngồi chơi game.
Khoảng 15 phút sau, anh Q đi đến chỗ C nói “Anh không tin em sao, giúp em đi”. C trả lời “Anh không có tiền thật mà, mày làm ơn đi chỗ khác để anh chơi”. Anh Q chửi “Đ.M mày, nhớ mặt tao”. C nghe vậy không nói gì, anh Q bỏ về chỗ máy của mình. Ít phút sau, anh Q đi đến chỗ C đang chơi game, tay phải đấm mạnh 01 cái vào má trái của C làm chảy máu. Bị đánh, C tức giận lấy dao Thái Lan có sẵn trên bàn giữa 02 máy vi tính, rồi cầm dao bằng tay phải đứng lên ghế mình ngồi. Thấy vậy, anh Q lao đến, C dùng dao quơ ngang qua lại trúng vào mặt anh Q làm chảy máu. Anh Q xông đến dùng hai tay kéo C xuống ghế, sau đó anh Q dùng hai tay kẹp cổ C theo tư thế phần đầu của C ở phía sau lưng anh Q, còn phần hai tay, thân người và hai chân của C ở phía trước người anh Q. Bị anh Q kẹp cổ, C dùng tay trái nắm vào phần hông bên phải anh Q, còn tay phải C cầm dao Thái Lan đâm 01 nhát trúng ngực anh Q. Anh Nguyễn Hải Q1 đang chơi game thấy vậy chạy đến giật con dao trên tay C vút vào góc quán. Lúc này anh Q bị ngã xuống nền nhà, sau đó C và một số người có mặt trong quán đưa anh Q đến bệnh viện cấp cứu. Đến ngày 04-11-2016, anh Q tử vong. Ngay sau đó, C đến Công an huyện K đầu thú.
Kết quả khám nghiệm tử thi anh Nguyễn Hồng Q ghi nhận: Vùng trán trái phía trên lông mày có vết rách da hình khe, dài 0,7cm. Đỉnh mũi có vết rách da hình khe dài 02cm, sâu 0,4cm; cách vết này 03cm tại môi trên có vết rách da hình khe dài 02cm. Mép phải có vết rách da hình khe dài 03 cm, sâu 0,8cm. Ba vết rách da tạo đường thẳng không liên tục hướng từ trên xuống dưới, từ trái qua phải. Ngực phải cách núm vú phải 3,5cm về phía dưới, cách đường giữa 09 cm có vết xây xát da nằm ngang hình khe dài 1,3cm. Ngực trái cách gót chân trái 120cm, cách đường giữa 05cm có vết rách da dài 2,5cm, hở rộng 01 cm, nằm ngang hướng từ trái sang phải, từ trước ra sau, từ ngoài vào trong.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 714/QĐPY ngày 24-11-2016 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Nguyên nhân tử vong của anh Nguyễn Hồng Q là vết thương thấu ngực trái gây nên thương tổn xuyên tim dẫn đến tim ngừng đập và mất máu suy tuần hoàn cấp không hồi phục.
Tại Bản kết luận pháp y thương tích số 113/PY-TgT ngày 04-01-2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Trần Văn C bị chấn thương vùng má trái với thương tích 02%.
Trước Khi xét xử sơ thẩm, gia đình Trần Văn C đã bồi thường cho gia đình người bị hại 95.000.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2017/HSST ngày 09-5-2017, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk áp dụng khoản 1 Điều 95; các điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”; căn cứ Điều 42 Bộ luật Hình sự, các điều 606, 610 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo C phải bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 122.600.000 đồng, đã bồi thường 95.000.000 đồng, còn lại phải bồi thường 27.600.000 đồng; buộc cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Hồng M 600.000 đồng/tháng; đối với con mới sinh của anh Nguyễn Hồng Q, chị Lại Thị Minh T có quyền khởi kiện về yêu cầu cấp dưỡng bằng một vụ án dân sự khác Khi có yêu cầu.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 22-5-2017, người đại diện hợp pháp của người bị hại chị Lại Thị Minh T kháng cáo đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 93 Bộ luật Hình sự đối với Trần Văn C và tăng hình phạt; đồng thời, đề nghị tăng mức cấp dưỡng đối với cháu Hồng M và yêu cầu xác định trách nhiệm cấp dưỡng cho con mới sinh của anh Q là cháu Hải Đ (sinh ngày 29-4-2017).
Ngày 24-5-2017, Trần Văn C kháng cáo xin giảm hình phạt.
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 200/2017/HSPT ngày 10-8-2017, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng căn cứ điểm a, b, C khoản 2 Điều 248; khoản 3 Điều 249 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn C.
- Chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại:
+ Sửa bản án sơ thẩm về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 2 Điều 93; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn C 07 (bảy) năm tù về tội “Giết người”.
+ Hủy một phần bản án hình sự sơ thẩm liên quan đến trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con của người bị hại; giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk giải quyết lại theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án số 47/2017/HSST ngày 14-9-2017, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk quyết định buộc Trần Văn C có nghĩa vụ cấp dưỡng cho 02 cháu Nguyễn Hồng M và Nguyễn Hải Đ, mỗi cháu 650.000 đồng/tháng.
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 15/2018/KN-HS ngày 22-5-2018, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định kháng nghị Bản án hình sự phúc thẩm số 200/2017/HSPT ngày 10-8-2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thấm hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên về phần trách nhiệm hình sự đối với Trần Văn C và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đê xét xử phúc thẩm lại.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định hủy bản án phúc thẩm, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về phần tội danh và hình phạt đối với Trần Văn C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của Trần Văn C phù hợp với lời khai của các nhân chứng Lê Hữu N1, Nguyễn Văn N2 có cơ sở xác định nguyên nhân xảy ra sự việc bắt nguồn từ lỗi của người bị hại Nguyễn Hồng Q. Anh Q đã có một chuỗi hành vi liên tục tác động đến Trần Văn C như hỏi vay tiền C, C trả lời không có tiền, anh Q chửi C, C không nói gì, tiếp đó anh Q đến chỗ C ngồi đấm vào mặt C (gây thương tích 02%). Sau Khi bị anh Q đấm, C lấy con dao (dùng để gọt trái cây, có sẵn trên bàn) rồi đứng lên ghế quơ qua quơ lại (thể hiện C không có ý định tấn công anh Q mà nhằm ngăn chặn sự tấn công của anh Q), nhưng anh Q bất chấp C đang cầm dao vẫn lao vào và kéo C xuống khỏi ghế, kẹp cổ C. Trong tư thế bị khống chế, phần đầu của C bị kẹp ở phía sau lưng anh Q, hai tay, chân và thân người của C ở phía trước người anh Q, C đã dùng tay phải đang cầm dao đâm vào ngực anh Q, gây ra cái chết cho anh Q. Trường hợp này, bị hại là người gây sự, tấn công bị cáo trước. Hành vi tấn công của bị hại diễn ra liên tục với mức độ tăng dần. Hành vi của bị hại là trái pháp luật, xâm phạm sự an toàn về thân thể của bị cáo. Trong trạng thái bị kích động dẫn đến mất khả năng tự chủ, không nhận thức hết được tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi của mình, bị cáo dùng dao đâm vào ngực bị hại là nhằm thoát khỏi sự tấn công. Do đó, có đủ cơ sở xác định Trần Văn C đã bị kích động mạnh về tinh thần. Tòa án cấp sơ thẩm kết án Trần Văn C về tội “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” là có căn cứ.
[2] Tòa án cấp phúc thẩm nhận định Trần Văn C bị kích động về tinh thần, nhưng chưa đến mức bị kích động mạnh, là chưa xem xét khách quan, toàn diện nguyên nhân, quá trình diễn biến của sự việc cũng như mức độ nghiêm trọng, liên tục của hành vi trái pháp luật của người bị hại, từ đó chuyển tội danh từ “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” sang “Giết người” đối với Trần Văn C là không đúng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 382, khoản 2 Điều 388, Điều 390 Bộ luật Tố tụng hình sự:
1. Hủy Bản án hình sự phúc thẩm số 200/2017/HSPT ngày 10-8-2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về phần trách nhiệm hình sự (tội danh, hình phạt và án phí) đối với Trần Văn C.
2. Giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2017/HSST ngày 09-5-2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về phần trách nhiệm hình sự đối với Trần Văn C.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“[1] ... bị hại là người gây sự, tấn công bị cáo trước. Hành vi tấn công của bị hại diễn ra liên tục với mức độ tăng dần. Hành vi của bị hại là trái pháp luật, xâm phạm sự an toàn về thân thế của bị cáo. Trong trạng thái bị kích động dẫn đến mất khả năng tự chủ, không nhận thức hết được tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi của mình, bị cáo dùng dao đâm vào ngực bị hại là nhằm thoát khỏi sự tấn công. Do đó, có đủ cơ sở xác định Trần Văn C đã bị lách động mạnh về tinh thần. Tòa án cấp sơ thẩm kết án Trần Văn C về tội “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh ” là có căn cứ. ”
Hotline:0972238006