Luật Sư Chuyên Hình Sự

Tội phạm được xác định như thế nào khi áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Chuyên Hình Sự

Tội phạm được xác định như thế nào khi áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

LÊ NGỌC NAM (Tòa án quân sự Khu vực Quân khu 4)- Một người thực hiện hành vi phạm tội sau một thời gian nhất định tùy thuộc và tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, Nhà nước thấy không cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ, vì việc xử lý bằng biện pháp hình sự là không cần thiết.

21 tháng 12 năm 2022 13:30 GMT+7   0 Bình luận
 

1. Quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 27 BLHS, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau: 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng; 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng; 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng; 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.

2. Nhiều quan điểm khác nhau

Việc xác định loại tội phạm để áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ cần căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 9 BLHS. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các vụ án còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến chế định này. Cụ thể như sau:

a) Quá trình điều tra, truy tố, xét xử có được tính vào thời hạn trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hay không?

Về vấn đề này hiện nay còn đang tồn tại hai quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử không được tính vào thời hạn trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Do thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự áp dụng đối với người phạm tội nên sau khi có quyết định khởi tố bị can, vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì xác định là đang trong quá trình hoạt động tố tụng đối với vụ án và không được tính vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (bao gồm cả trường hợp vụ án bị hủy đi hủy lại nhiều lần để xét xử lại hoặc để điều tra lại hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhiều lần...).[1]

Quan điểm thứ hai:Quá trình điều tra, truy tố, xét xử được tính vào thời hạn trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được hiểu là một người thực hiện hành vi phạm tội sau một thời gian nhất định thì tùy thuộc vào tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà nhận thấy việc xử lý hình sự đối với họ sẽ không cần thiết nữa. Có nghĩa là sau thời hạn này người này không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

Ví dụ: Theo phân tích ở trên thì đối với tội phạm ít nghiêm trọng thì sau thời gian 05 năm sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tức là, nếu quá trình điều tra, truy tố, xét xử vượt quá thời hạn 05 năm này thì việc xử lý hình sự với tội phạm này sẽ không còn cần thiết nữa. Tương tự như vậy đối với tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.

b) Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự áp dụng như thế nào trong vụ án có đồng phạm bỏ trốn?

Trên thực tế có nhiều vụ án có nhiều người tham gia, trong đó có một số người bị bắt ngay, có một số người bỏ trốn cơ quan điều tra phải ra lệnh truy nã, hơn nữa hành vi phạm tội của những người này không thể tách ra để xử lý riêng nên phải tạm đình chỉ điều tra vụ án để đợi bắt người bỏ trốn. Vậy trong trường hợp này, những người không bỏ trốn có được hưởng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự trong thời gian người kia bỏ trốn hay không?

Hiện nay vấn đề này đang còn tồn tại hai quan điểm:

Quan điểm thứ nhất:Những bị can bị bắt phải chịu thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo bị can bỏ trốn.

Theo quan điểm này thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự của những bị can bị bắt phải căn cứ vào thời hiệu của bị can đang bị truy nã. Tức là thời hiệu truy cứu những bị can này sẽ thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 27 BLHS: “Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã ra quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ”.

Quan điểm thứ hai:Những bị can bị bắt được hưởng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi cá nhân của mình.

Tuy đây là vụ án có đồng phạm nhưng pháp luật hình sự ở nước ta có nguyên tắc cơ bản là cá thể hóa trách nhiệm hình sự. Đặc biệt, trong vụ án có đồng phạm thì nguyên tắc này càng được thể hiện rõ hơn. Trong một vụ án có nhiều người tham gia thì trách nhiệm hình sự bao giờ cũng là trách nhiệm của cá nhân. Trong thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu các cơ quan tiến hành tố tụng không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người không trốn tránh và không có lệnh truy nã thì hết thời hiệu đó không được truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ nữa.

c) Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được xác định theo tội danh của Cơ quan Điều tra khởi tố hay tội danh của Tòa án tuyên?

Một người phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà mình thực hiện. Pháp luật nước ta quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.

Như vậy, một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Từ đó, có thế hiểu tội phạm được áp dụng để xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là tội phạm mà Tòa án tuyên trong bản án có hiệu lực pháp luật.

Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn quan điểm cho rằng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được xác định theo tội danh mà Cơ quan Điều tra hình sự khởi tố.

Trên đây là nội dung trao đổi của tác giả về các vấn đề liên quan đến thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Mong quý bạn đọc cùng thảo luận!

Bài bào chữa ls Trần Minh Hùng về tội mua bán ma túy

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Chuyên Hình Sự

ĐOÀN LUẬT SƯ TP.HCM

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ GIA ĐÌNH

ĐT: 028.38779958

                         CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

                                 Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Văn phòng luật sư Gia Đình là một hãng luật được quyền cung cấp dịch vụ pháp lý là luật sư tư vấn pháp luật thường xuyên trên Đài Truyền hình HTV7, HTV9, Đài truyền hình Vĩnh Long, Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài truyền hình cáp VTC, Truyền hình Cần Thơ, Đài VOV Giao Thông, SCTV, Truyền hình Công an ANTV, Truyền hình Quốc hội Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Báo Pháp luật TPHCM, Báo công an nhân dân, Báo Công an nhân dân, Thanh Niên, Báo pháp luật… và nhiều hãng báo chí khác... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Đại học Cảnh sát nhân dân. Là Luật sư  bào chữa, tư vấn, bảo vệ cho nhiều vụ án trên mọi lĩnh vực…

             BÀI BÀO CHỮA CỦA LS TRẦN MINH HÙNG – TRƯỞNG VPLS GIA ĐÌNH CHO BỊ CÁO NGUYỄN THANH DƯƠNG BỊ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH XÉT XỬ VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY VỚI HÌNH PHẠT TỬ HÌNH.

 

Chứng cứ buộc tội yếu:

Bản án sơ thẩm số 60/2020/HSST ngày 28/12/2020 kết tội Dương chủ yếu dựa trên lời Khai của Bách để tiến hành khám xét và bắt Dương, Đức, Hải. Tòa án cấp sơ thẩm sơ thẩm không xem xét toàn diện các lời khai của các bị cáo, các chứng cứ cũng như lời bào chữa của các luật sư cho bị cáo.

Tòa sơ thẩm dựa trên Zalo Hoàng Thu để quy kết Dương câu kết mua ma túy từ Hoàng Thu gần 05kg methamphetamine và gần 1kg ketamine là chưa có căn cứ buộc tội. Bởi cơ quan điều tra cho đến lúc này chưa làm rõ được Hoàng Thu là ai, đối tượng Hoàng Thu có có thật hay không vẫn chưa làm rõ, đối tượng này hiện nay ở đâu, quốc tịch ở đâu cũng chưa xác minh làm rõ. Nếu chỉ dựa trên tin nhắn zalo để quy kết là không có căn cứ. Bởi tài khoản zalo là tài khoản miễn phí, ai cũng có thể mở được và thậm chí đó là 1 tài khoản ảo không phải là 1 chủ thể, 1 con người nhất định. 1 người có thể mở nhiều tài khoản zalo, thậm chí Dương cũng có thể mở tài khoản zalo Hoàng Thu. Làm sao có thể xác định tài khoản zalo tên Hoàng thu là của Hoang Thu và cua 1 người bên Camphuchia. Việc dựa vào zalo kết tội Dương mua ma túy với đối tượng Hoang Thu là rất mơ hồ, không có cơ sở pháp lý và chứng cứ này không đủ căn cứ để buộc tội Dương mua ma túy. Zalo là chứng cứ điện tử nhưng chưa được cơ quan điều tra thu thập và chưa được giám định theo đúng điều 99, điều 107 Bộ luật TTHS.

Trong tin nhắn Zalo Hoang Thu mà cơ quan điều tra thu thập được thì không có bất kỳ tin nhắn nào Hoang Thu hay Zalo Dương có trao đổi mua gần 5 kg ma túy methamphetamine và gần 1 kh kethamine, không có từ nào nói đến ma túy hay methamphetamine và kethamine, không có từ nào trao đổi mua giá ma túy bao nhiêu tiền, nhờ ai vận chuyển, bao nhiêu ký….trong các tin nhắn này thì Dương lúc thừa nhận lúc không thừa nhận mình mua bán ma túy nên cơ sở buộc tội còn chưa có căn cứ.

Theo bút lục số 286 nội dung tin nhắn zalo không có nội dung nào là đề cập mua bán ma túy, số tiền mua bao nhiêu, ai mua, ai bán, số lượng…hoàn toàn không đề cập. Tại sao trên dữ liệu zalo này Dương ký nhận là tin nhắn Dương nhưng lúc Dương không thừa nhận. Liệu Dương có bị ép cung cung không? Tại sao chưa xác minh Hoang Thu là ai mà Dương đã ký xác nhận là zalo Dương thì liệu có khách quan và đúng luật khi thu thập chứng cứ là file điện tử theo quy định pháp luật không?

Cơ quan tố tụng đã thu thập chứng cứ là file điện tử chưa đúng theo điều 99, 107, 192, 196,199 bộ luật tố tụng hình sự. Tôi cho rằng zalo mà cơ quan điều tra chụp màn hình điện thoại không phải là file điện tử gốc để thu thập dùng làm chứng cứ theo điều 99, điều 107 bộ luật tố tụng hình sự và theo điều 86, điều 87 Bộ luật TTHS để chứng minh hành vi phạm tội, chưa đủ dữ liệu chứng minh. Chứng cứ là file điện tử thì phải là file gốc, được niêm phong theo quy định, theo quy định khi mở và đóng niêm phong điện thoại và kiểm tra điện thoại, zalo Dương phải được kiểm tra trên file gốc và có xác nhận, chữ ký của Dương khi kiểm tra zalo, điện thoại Dương chứ không thể chụp màn hình rồi yêu cầu Dương ký vào là không đúng pháp luật.

Cần phải điều tra bổ sung và thu thập bản gốc file fle điện tử gốc là điện thoại Dương và Zalo Dương theo đúng pháp luật.

Do vậy tôi yêu cầu phải giám định file điện tử là zalo mà cơ quan tố tụng cho là của Dương. Căn cứ điều 61 BLTTHS bị cáo có quyền yêu cầu giám định, có quyền Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá. Những vấn đề này tòa cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bị cáo là chưa đúng pháp luật.

Theo công văn số 187 (BL 149) CQCSĐT Công an Tây Ninh yêu cầu sở thông tin truyền thông và chức năng xác minh zalo Hoang Thu qua số điện thoại và địa chỉ nhưng công ty CP VNG đã gửi công văn số 376 ngày 29/7/2020 trả lời là không đủ dữ liệu và không lưu thông tin để có thể xác minh zalo Hoang Thu được. Do vậy, càng không có căn cứ Hoang Thu là ai và không có căn cứ Dương mua ma túy Hoang Thu có thật không? Cơ quan điều tra cần làm rõ Hoang Thu là ai mới có căn cứ vững chắc kết tội Dương. Cơ quan điều tra cũng dựa vào tin nhắn zalo với Hoang Thu để cho rằng Dương liên hệ Bách chở khách vận chuyển ma túy là chưa có căn cứ.

Trong vụ án này Dương không bị bắt quả tang mua bán trái phép chất ma túy, Dương chưa trực tiếp cầm ma túy sai lại bị kết tội mua bán chất ma túy với khung hình phạt tử hình là chưa bảo đảm đúng pháp luật, chưa trực tiếp cầm balo chứa đựng ma túy, Dương không thuộc trường hợp bắt khẩn cấp, vì không phải truy xét tội phạm nên việc kết tội Dương là chưa có cơ sở. Vụ án này không phải là án truy xét, Duy mới là người bị bắt quả tang nên không thể dựa vào lời khai Duy là Cường nhờ vận chuyển và dựa vào lời khai Bách để truy tố Dương là chưa thuyết phục. Theo cáo trạng và kết luận điều tra và theo hồ sơ vụ án thì Dương chưa nhận ma túy, chưa cầm ma túy mà chỉ mới ra tới cổng thì bị cơ quan công an bắt và giữ người khẩn cấp. Theo hồ sơ thì Dương chỉ bị bắt khẩn cấp sau khi Duy bị bắt.

Như vậy, chưa thể kết tội Dương mua bán ma túy khi ma túy đã bị bắt trước đó

Như vậy, Dương không phải bị bắt quả tang về hành vi mua bán ma túy, đối chiếu với các chứng cứ trong hồ sơ thì chứng cứ rất yếu, chủ yếu lời khai nên tôi cho là chưa có cơ sở vững chắc kết tội bị cáo.

Theo quy định tại điều 14 Bộ luật hình sự quy định về “chuẩn bị phạm tội” thì nếu có chăng hành vi của Dương cũng chỉ mời trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội. Và theo điều 14 BLHS thì trong trường hợp này Dương không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Nếu cho rằng Dương phạm tội thì trường hợp này cũng có thể thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt được quy định tại điều 15 Bộ luật hình sự 2015. Như vậy căn cứ theo điều 57 Bộ luật hình sự quy định về “Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt” như sau:

“1. Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, hình phạt được quyết định theo các điều của Bộ luật này về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng.

2. Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, hình phạt được quyết định trong phạm vi khung hình phạt được quy định trong các điều luật cụ thể.

3. Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.”

Balo ma túy đã giao tận Dương chưa? Dương đã nhận balo đựng ma túy chưa? Cơ quan điều tra không bắt quả tang Dương vận chuyển hay mua bán ma túy mà chỉ dựa vào zalo Hoang Thu. Balo ma túy thì bắt quả tang Duy đang cầm vậy làm sao kết tội Dương mua bán số ma túy này khi chỉ dựa vào zao chưa thu thập đúng luật ?

Tại tòa và cả tại hồ sơ vụ án Duy không biết Dương, Dương không biết Duy nên cũng chưa có chứng cứ Dương mua bán ma túy và Duy là người giao cho Dương.

Dương khai không mua ma túy, khi ký cuối nhiều bản khai Dương đều ghi là không mua bán ma túy. Cần làm rõ Dương bị ép cung hay không mà khai và ghi mâu thuẫn nhau trong bản khai như vậy?

Đối tượng Cường nhờ Duy vận chuyển chưa tìm ra, không điều tra được nên chưa có căn cứ vững chắc buộc tội Dương. Cần điều tra và làm rõ Cường là ai? Hoang Thu là ai? Theo bản khai của Duy thì Tại sao Cường nhờ Duy vận chuyển mà cho rằng Dương mua ma túy của đối tượng Hoang Thu là mâu thuẫn, trong khi Dương không biết Cường là ai, không biết Duy là ai. Chứng tỏ điều này chưa được làm rõ mối quan hệ Cường, Duy, Hoang Thu là 1 người hay 3 người khác nhau. 3 người này có mối quan hệ và biết nhau không?

BL 316 Dương khai chỉ yêu cầu Bách chở khách tới khách sạn Hoang Thu thì bị công an bắt chứ không phải kêu bách chở ma túy.

Bl 322 ngày 6/4/2020 Dương khai “tôi chỉ biết Hoang Thu kêu nhờ tôi chở khách”. Cuối bản khai này Dương ghi như vậy chứng tỏ Dương không thừa nhận Dương nhờ Bách đi vận chuyển người giao ma túy. Chứng cứ buộc tội cơ quan điều tra chưa làm rõ vấn đề này.

Bản khai ngày 22/4/2020 BL 331 Dương lúc ký nhận bản khai thì có ghi câu cuối bản khai Dương không thừa nhận thực hiện mua bán ma túy.

Duy khai Cường nhờ vận chuyển thuốc lá, rượu, nước hoa, không có ma túy. Vậy tại sao trong túi có ma túy. Cường là ai cơ quan điều tra chưa điều tra được. Dù lời khai còn mâu thuẫn, chưa phù hợp với các chứng cứ khác như zalo, xác minh tổng đài điện thoại nhưng kết tội Dương mua ma túy là chưa đúng.

Chứng cứ buộc tội yếu, khai mâu thuẫn.

Việc chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tố tụng nhưng vụ án này việc chứng minh hành vi phạm tội chứng cứ còn yếu, chưa thuyết phục và tôi cho rằng chưa đủ cơ sở kết tội Dương.

Chưa có chứng cứ vật chất chứng minh số ma túy Duy vận chuyển là do Dương mua.

Bút lục 249 Duy khai không biết ma túy, Duy khai do tài xế biết, Duy không biết gì. Vậy lời khai này càng chứng tỏ chưa làm rõ thật sự số ma túy này là của ai? Ai nhờ vận chuyển?

BL 249 Duy khai không biết gì ma túy mà hỏi tài xế. Duy lúc thừa nhận lúc không.

Hơn nữa theo Duy khai trong bút lục 249 thì trong túi có 15 cây thuốc lá và 5 lọ nước Hoa phù hợp lời khai Dương là vận chuyển nước hoa, thuốc lá.

Bản khai BL 249 Duy khai “sau đó tôi có nghe thông báo là có địa điểm rồi và đến TPHCM bắt người”. Như vậy, cơ quan điều tra dựa vào đâu khi đang ở Tây Ninh đã xuống TPHCM để bắt Dương như Duy khai. Tôi cho rằng đây là chi tiết chứng minh cơ quan điều tra chưa có chứng cứ cụ thể Dương mua bán gần 6 kg ma túy như cáo trạng và bản án sơ thẩm tuyên. Điều này chứng tỏ cơ quan điều tra dựa lời khai Bách để bắt Dương chứ không phải lời khai Duy.

Việc số tiền 250 triệu tại nhà, Dương khai trong đó cầm xe 180 triệu, thời hạn cầm xe từ 3/3/2020 đến 3/4/2020 ( BL 252) cũng là căn cứ chứng minh số tiền 250 triệu là của Dương không. Trong đó có mấy chục triệu của Dương nên tổng cộng là 250 triệu của Dương, 30 triệu cũng của Dương không?.

BL 275 biên bản kiểm tra điện thoại di động Dương thì Bách có cuộc gọi đến số điện thoại của Dương lúc 22h28 phút ngày 5/4/2020, số điện thoại này gọi sau khi Duy bị bắt và cuộc gọi đi của Dương tới Bách là 21h39 phút ngày 5/4/2020 cũng sau khi Duy cũng bị bắt. Liệu đây có sự dàn xếp để cho rằng Dương mua ma túy không? Cơ quan điều tra chưa làm rõ. Nếu Duy đã bị bắt rồi sao còn gọi được cho Dương? Đây là điều vô lý.

BL 422 Đức thừa nhận đưa cân điện tử loại lớn tới nhà Dương, không phải cân của Dương.

Số tiền Dương chuyển vào Hộ kinh doanh Phương Huyền stk 060227806 vào các lần như: 3/4/202 là 370 triệu, 4/4/2020 110 triệu, ngày 5/4/2020 là 200 triệu cơ quan điều tra chưa làm rõ là tiền gì? Chuyển cho ai? Phương Huyền sau đó chuyển tiền này cho ai. Tiền này phải tiền mua ma túy của Dương không? Tại sao Dương mua ma túy mà lại chuyển vào tài khoản này? Cần làm rõ hơn vấn đề này (bl 543 ngày 1/6/2020 của Đặng Ngọc Phương). Phương Huyền đã chuyển số tiền Dương chuyển cho ai cần phải làm rõ để chứng minh Dương mua ma túy của người đó. Liệu số tiền Dương chuyển cho Hộ KD Phương Huyền thì Hộ KD này có chuyển lại cho Hoang Thu không? Vì cơ quan điều tra cho rằng Dương mua ma túy của Hoang Thu thì phải điều tra chứng minh làm rõ là số tiền 200 triệu Dương chuyển cho Hộ KD Phương Huyền và hộ Kinh doanh Phương Huyền đã chuyển cho Hoang Thu thì mới có cơ sở Dương mua ma túy Hoang Thu, nếu chưa làm rõ điều này thì chưa có căn cứ kết tội Dương mua ma túy Hoang Thu. Nhưng bản án sơ thẩm chưa làm rõ vẫn tuyên Dương có tội do mua ma túy từ Hoang Thu.

Những tin nhắn mà cơ quan tố tụng cho là của Dương và Đức trên zalo cũng không thể hiện Dương mua ma túy bao nhiêu ký, mua những loại ma túy nào, mua bao nhiêu tiền, mua của ai? Mua như thế nào? Giá trị chứng minh của các chứng cứ này chưa đúng pháp luật.

Cơ quan điều tra cũng chưa có chứng cứ và điều tra cụ thể các tin nhắn mà cho là của Dương trên zalo thì có thật đó có phải là zalo của Dương không? Điều này chưa được làm rõ cụ thể làm cơ sở vững chắc buộc tội bị cáo.

Cũng tương tự là các tin nhắn giữa Dương và Hải không thể hiện số lượng ma túy mua cụ thể, loại ma túy và số tiền cụ thể là bao nhiêu.

Điều phi lý là cáo trạng, kết luận điều tra và bản án sơ thẩm là kết tội Dương khai mua ma túy 4989,7989 gam loại methamphetamine là 1.000.000.000 đồng tương đương 200.000.000 đồng/kg và kethamine là 998,2573g tương đương 500.000.000 đồng, tổng cộng tiền mua ma túy là: 1.500.000.000 đồng và cáo trạng và cả kết luận điều tra, bản án sơ thẩm đều kết luận nội dung như vậy. Nhưng đây là điều hết sức vô lý vì cơ quan tố tụng chưa làm rõ được Dương mua kethamine là 998,2573g để làm gì? Bán cho ai? Tại sao không phải đặt cho Hoang Thu số ma túy này? Lúc Dương khai nhận lúc không? Lúc đầu Dương khai không mua 1 kg kethamine, ban đầu Đức cũng khai tương tự Dương là Dương không mua 1 kg kethamine. Điều này cho thấy có sự mâu thuẫn, chưa rõ ràng số ma túy này Dương có mua không và tại sao cả 2 đều khai ban đầu quên là điều tôi thấy rất nghi ngờ số ma túy này do ai mua? Và có sự mâu thuẫn không rõ ràng khi điều tra.

Cơ quan điều tra chưa giám định cụ thể hàm lượng chất ma túy trong toàn bộ số chất nghi ma túy mà Duy vận chuyển.

Theo Công văn số 234 và Thông báo số 264 của tòa án tối cao đều quy định nếu chưa giám định hàm lượng các chất thu giữ nghi là chất ma túy thì bắt buộc phải giám định.

Văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật như Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy”, nội dung 1.4 mục I hướng dẫn: “Trong mọi trường hợp, khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trưng cầu giám định để xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma túy, tiền chất”.

Ngày 17/9/2014, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Công văn số 234/TANDTC-HS hướng dẫn Tòa án các địa phương giải quyết án ma túy, trong đó có nội dung: “Bắt buộc phải giám định hàm lượng của các chất thu giữ nghi là chất ma túy để lấy đó làm căn cứ kết tội các bị cáo.

Công văn số 234 đã quy định cụm từ “để lấy đó làm căn cứ kết tội các bị cáo”. Tiếp theo đó, ngày 29/10/2014, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông báo số 264/TANDTC-TB trong đó quy định “việc giám định hàm lượng chất ma túy là bắt buộc đối với các chất thu giữ được nghi là chất ma túy, để từ đó xác định trọng lượng chất ma túy làm căn cứ xử phạt bị cáo (trọng lượng chất ma túy được hiểu là trọng lượng ma túy tinh chất, ma túy nguyên chất)”.  (trọng lượng chất ma túy được hiểu là trọng lượng ma túy tinh chất, ma túy nguyên chất)”. 

Theo quy định hiện hành:Việc xử lý các tội phạm về ma túy đều căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự và Thông tư liên tịch số 17, trong đó chất thu được phải được quy định trong danh mục các chất ma túy do Chính phủ ban hành. Việc truy tố, xét xử căn cứ vào trọng lượng, số lượng chất ma túy thu giữ được quy định chỉ có 03 trường hợp cụ thể tại điểm a, b tiểu mục 1.1, mục 1, phần I và tiểu mục 3.5, mục 3, phần II thông tư liên tịch số 17. 

Do vậy tôi cũng đề nghị giám định cụ thể trọng lượng chất ma túy cụ thể ở đây là ma túy tinh chất, nguyên chất vì trong kết luận giám định số 489 là giám định khối lượng thu được từ trong balo Duy mà thôi.

Theo kết luận điều tra và cáo trạng, bản án sơ thẩm thì ban đầu Dương nhận tội nhưng sau không nhận tội là phù hợp lời khai Dương tại tòa khi Dương cho rằng Dương khi bị bắt bị đánh đập, ép cung, Dương chưa cầm ma tuy, không bị bắt quả tang.

Từ những căn cứ nêu trên tôi cho rằng chưa đủ căn cứ kết tội Dương, để chứng minh bằng chứng cứ vật chất cụ thể hành vi phạm tội của Dương vì chứng cứ chứng mimh Dương phạm tội chưa vững chắc, còn thiếu, làm rõ các vấn đề tôi yêu cầu như trên.

Làm rõ Cường là ai, Hoang Thu là ai, làm rõ trách nhiệm những người liên quan, làm rõ 1kg kethamine nếu Dương mua bán cho ai? Tại sao tiền Dương chuyển cho Phương Huyền là cho rằng tiền mua ma túy mà Đặng Ngọc Phương không biết…làm rõ Duy tại sao không biết Dương mà vận chuyển ma túy cho Dương, làm rõ tại sao Bách không biết Dương chở ai cụ thể, chở đi đâu? Làm rõ Cường là ai, có mối quan hệ gì với Dương và Duy, làm rõ Hộ kinh doanh Phương Huyền đã chuyển tiền cho ai bên Camphuchia khi Dương chuyển tiền cho Hộ kinh doanh này. Làm rõ Bách tại sao vẫn lên tới cửa khẩu để chở khách mà không hỏi lý do cụ thể chở khách đi đâu, họ tên và làm gì. Làm rõ tại sao cơ quan điều tra và Bách biết nhà Dương để chở Duy về gọi Dương ra rồi bắt Dương, làm rõ Zalo Hoang thu có phải của Hoang Thu và Hoang Thu là ai, làm rõ zalo được cho là Dương nhắn với Hoang Thu thì có phải của Hoang Thu không?..............

………………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………..

Từ các cơ sở trên tôi đề nghị tuyên bị cáo Dương không phạm tội mua bán tráo phép chất ma túy.

Kính mong HĐXX xem xét chấp nhận.

Trân trọng.

LS TRẦN MINH HÙNG

TRƯỞNG VPLS GIA ĐÌNH

Trộm vào nhà có được đánh không? Giết trộm vào nhà có đi tù không?

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Chuyên Hình Sự

Trộm vào nhà có được đánh không? Giết trộm vào nhà có đi tù không?

 

Tình trạng xảy ra nếu có trộm vào nhà, thì chủ nhà phát hiện được có được đánh không và nếu có lỡ tay giết kẻ trộm thì hậu quả pháp lý sẽ như thế nào.
 
 

Trộm vào nhà có được đánh không là câu hỏi của rất nhiều người. Vậy hôm nay chúng ta cùng Luật sư tìm hiểu nhé.

1. Trộm vào nhà có được đánh không?

Để trả lời câu hỏi trên chúng ta cần phải biết quyền và nghĩa vụ của chúng ta khi có trộm vào nhà.

- Thứ nhất, hành vi trộm cắp tài sản là hành vi vi phạm pháp luật, tuy nhiên tùy thuộc vào cấu thành tội phạm và mức độ hậu quả nghiêm trọng đến đâu mà người có hành vi trộm cắp sẽ bị xử lý trách nhiệm tương xứng. Trộm  là hành vi phạm tội khi người nào đó hoặc nhóm người nào đó lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật, đối tượng tác động có thể là tài sản, dịch vụ, ... mà không được sự cho phép của chủ sở hữu tài sản.

 

- Thứ hai, khi phát hiện có trộm vào nhà chủ nhà thường rất dễ nổi nóng lúng túng không biết xử lý như thế nào. 

Về quy định của pháp luật trong trường hợp này thì:

- Theo khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 có quy định như sau: "Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm"

- Cũng theo khoản 2 Điều 22 Hiến pháp năm 2013 có quy định như sau: "Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý."

- Về tài sản thì theo quy định tài sản thì theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Hiến pháp năm 2013 có quy định: "Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác."

Căn cứ theo các quy định trên sức khỏe, tính mạng của kẻ trộm khi vào nhà hay quyền của chủ nhà về tài sản hay bất khả xâm phạm về chỗ ở đều được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, không phải hành vi xâm phạm sức khỏe nào cũng đều bị pháp luật nghiêm cấm, ngoài trừ những trường hợp pháp luật cho phép.

 

Do đó hành vi đánh trộm khi vào nhà có được không thì phải xem xét hành vi đánh trộm đó có thuộc các trường hợp pháp luật cho phép hay không. 

Cụ thể căn cứ theo Điều 22 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có quy đinh:

"Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm

Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.

Người có hành vivượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sựtheo quy định của Bộ luật này."

 

Đầu tiên, chúng ta phải xem xét hành vi của tên trộm có đang xâm phạm các lợi ích của mình hay không. Hành vi đó phải có tính nguy hiểm cho xã hội và có thể là hành vi phạm tội hoặc cũng có thể là không.

Thứ hai, hành vi xâm hại của tên trộm phải là hành vi đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hai thật sự và ngay tức khắc cho lợi ich cần bảo vệ. Nếu chưa gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thì chưa phát sinh quyền phòng vệ chính đáng ở đây. Phải lưu ý để tránh tình trạng phòng vệ quá sớm hoặc phòng vệ quá muộn thì đều không được coi là phòng vệ chính đáng.

Thứ ba, Khi có cơ sở cho phép thực hiện hành vi phòng vệ, người phòng vệ có quyền chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm. Hành vi phòng vệ chính đáng chỉ có thể chống trả, gây thiệt hại cho người có hành vi xâm hại đến lợi ích. Chính vì thế nếu có hành vi xâm hại lợi ích xã hội thì việc phòng vệ chống trả là việc nên làm. Tuy nhiên vì là hành vi phòng vệ xảy ra ngay sau hành vi xâm hại nên việc không thể tính toán thiệt hại bằng với hành vi xâm hại đó nên nếu việc thiệt hại do phòng vệ chính đáng gây ra có lớn hơn hành vi phạm thì đây vẫn được coi là phòng vệ chính đáng.

 

Như vậy để trả lời cho câu hỏi trộm vào nhà có được đánh không thì chúng ta sẽ được chống trả lại nếu hành vi đó xâm hại đến lợi ích của chủ thể xã hội nào đó nhưng hành vi chống trả đó phải thoả mãn là hành động phòng vệ chính đáng chứ không phải là một hành vi trả thù hay giận dữ quá mức. Và ngược lại hành vi đánh trộm sẽ không được phép nếu đó không phải là hành vi phòng vệ chính đáng hay vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Trong trường hợp này tuỳ thuộc vào hậu quả và mức độ nghiêm trọng mà người vượt quá phòng vệ chính đáng có thể bị xử lý theo các quy định của pháp luật.

 

2. Giết trộm vào nhà có đi tù không?

Như đã phân tích ở mục 1 nếu giết trộm vào nhà mà đó là hành vi phòng vệ chính đáng thì sẽ được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp này.

Và ngược lại nếu không thuộc trường hợp giết trộm vào nhà mà không phải là phòng vệ chính đáng thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tuỳ thuộc vào hành vi mà người giết trộm vào nhà có thể bị truy cứu theo các tội danh sau:

- Điều 125 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.

"Người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Phạm tội đối với 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm."

- Điều 126 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội.

" Người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người đang phạm tội, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Phạm tội đối với 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm."

 

Ngoài ra hành vi chống trả lại kẻ trộm vào nhà mà dẫn đến hậu quả tên trộm bị chết, mà hành vi đó có đủ yếu tố cầu thành các tội danh như tại Điều 123 Tội giết người hoặc Điều 134 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (khoản 6 mà hậu quả dẫn đến chết người).

3. Cách giải quyết khi trộm vào nhà mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

- Nếu trong trường hợp bạn phát hiện trộm vào nhà mà người đó chỉ đi một mình hoặc đi nhiều người nhưng không mang theo hung khí nguy hiểm (súng, dao, ...) thì chúng ta có thể hô hoán người dân xung quanh hoặc dùng các biện pháp tâm lý khác để cho chúng bỏ ý định phạm tội hoặc bỏ trốn, sau đó chúng ta sẽ trình báo cơ quan công an gần nhất.

- Nếu trong trường hợp bạn phát hiện tên trộm đó có hung khí nguy hiểm mà việc chống trả và phòng vệ là cần thiết thì bạn sẽ chỉ thực hiện chống trả khi hành vi phạm tội của tên trộm đã diễn ra hoặc đe doạ việc sẽ diễn ra tức khắc nếu chúng ta không thực hiện các biện pháp phòng vệ. Nhưng cũng phải lưu ý việc chống trả lại chỉ với mục đích bảo vệ bản thân và tài sản chứ không nhằm mục đích nào khác, nếu tên trộm rơi vào tình trạng không thể chống cự hoặc bỏ trốn thì lúc đó chúng ta sẽ dừng hành vi phòng vệ. Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện mà người phòng vệ sẽ quyết định dùng biện pháp nào sao cho hợp lý mà không bị vi phạm pháp luật.

Cuối cùng để an toàn trong bối cảnh xã hội biến động như hiện nay thì mỗi người trong chúng ta cần phải tự trang bị cho mình những kiến thức pháp luật để bảo vệ bản thân và gia đình trong những tính huống tương tự....

LS TRẦN MINH HÙNG, LS GIỎI CHUYÊN HÌNH SỰ, KINH TẾ, ĐẤT ĐAI, HỢP ĐỒNG...THƯỜNG XUYÊN ĐƯỢC HTV, VTV,, THVL, ANTV, QUỐC HỘI, QUỐC PHÒNG...BÁO CHÍ MỜI PHỎNG VẤN, TƯ VẤN LUẬT....

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội.

                   Luật sư Trần Minh Hùng là một trong những luật sư sáng lập văn phòng luật, giàu kinh nghiệm về kiến thức và thực tiễn đã dành nhiều thắng lợi vụ kiện và quan trọng luật sư Hùng luôn coi trọng chữ Tâm của nghề luật sư và trách nhiệm đối với xã hội nên đã được nhiều hãng báo chí, truyền thông, Đài truyền hình, Đài tiếng nói Việt nam phỏng vấn nhiều lĩnh vực quan trọng liên quan đến đời sống. Luật sư Trần Minh Hùng được nhiều hãng truyền thông, báo chí trong nước  tin tưởng với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn trên VOV Giao Thông – Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài truyền hình TP.HCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài VOV, Truyền hình SCTV, THĐN, Truyền hình Quốc Hội VN, Truyền hình Công an ANTV, Đài truyền hình Vĩnh Long, Đài phát thanh kiên giang, Đài Bình Dương... và các hãng báo chí trên cả nước, được các tổ chức, trường Đại học Luật TP.HCM mời làm giám khảo các cuộc thi Phiên tòa giả định với Đại học cảnh sát, mời làm chuyên gia ý kiến về các sự kiện……là đối tác tư vấn luật của các hãng truyền thông này và luôn mang lại niềm tin cho khách hàng và ghi nhận sự đóng góp của chúng tôi cho xã hội...là luật sư bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ Ngân hàng Navibank, Huyền Như, Viettinbank, các vụ Giết Người do mâu thuẫn hát karaoke tại Bình Chánh, Vụ cướp 35 tỷ Long Thành- Dầu Dây, Bào chữa bị cáo Huân không đeo khẩu trang mùa Covit, Vụ Nữ sinh Tân Bình bị cắt tai, bảo vệ cho MC Trấn Thành, Bào chữa, bảo vệ vụ "Bác sĩ khoa rút ống thở", Bảo vệ cho người cho thuê nhà vụ Công ty Thế giới Di Động không trả tiền thuê nhà mùa dịch covid, Tư vấn cho nghệ sĩ Thương Tín, bảo vệ vụ đổ xăng đốt 10 người tại TPHCM, các vụ Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, cưỡng đoạt, cướp, gây thương tích, tham ô, mua bán ma túy, cố ý làm trái, Bào chữa Vụ Chủ tịch Huyện Đông Hòa, Phú Yên, Bảo vệ vụ đứng tên dùm nhà đất 165 tỷ, nhiều vụ án hành chính .… và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi..…là hãng luật tư vấn luật cho nhiều công ty Việt Nam và nước ngoài trên cả nước luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Trân trọng cảm ơn.

ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)

Trụ sở:402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)
5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)
64 Võ Thị Sáu, Tân Định, quận 1, TPHCM
Điện thoại: 028-38779958; Fax: 08-38779958
Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006

 

Luật sư chuyên tư vấn bào chữa tội cướp, cướp giật tài sản

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Chuyên Hình Sự

Quy định về tội cướp tài sản

Điều 168, luật hình sự năm 2015, quy định về tội cướp tài sản, cụ thể:

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

g) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

c) Làm chết người;

d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

--------------------------------------------------

 

PHÂN BIỆT TỘI CƯỚP VỚI MỘT SỐ TỘI DANH XÂM PHẠM SỞ HỮU KHÁC

- Tội "Cưỡng đoạt tài sản" quy định tại Điều 170 BLHS có hành vi khách quan "đe doạ sẽ dùng vũ lực…" là hành vi doạ sẽ gây thiệt hại đến sức khoẻ, tính mạng trong tương lai nếu không thoả mãn yêu cầu chiếm đoạt của người phạm tội. Khác với tội "Cướp tài sản" đe doạ "dùng vũ lực ngay tức khắc" thì tội "Cưỡng đoạt tài sản" là đe doạ "sẽ dùng vũ lực" tức là dùng vũ lực trong tương lai, có khoảng cách về thời gian. Sự đe doạ này không có tính nguy hiểm như tội cướp. Người bị đe doạ còn có điều kiện để chống cự lại, có thời gian để báo cáo với cơ quan có thẩm quyền xử lý trước khi hành vi chiếm đoạt xảy ra.

- Tội "Công nhiên chiếm đoạt tài sản", tội "Cướp giật tài sản" và tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại các điều 171, 172, 173 BLHS 2015, đối với các tội phạm này, hành vi khách quan ban đầu khác nhau, người có hành vi cướp giật tài sản và công nhiên chiếm đoạt tài sản là hành vi công khai, không có ý định che dấu hành vi đó. Đối với tội cướp giật tài sản là lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, người pham tội nhanh chóng tiếp cận chủ sở hữu tài sản để chiếm đoạt và lẩn tránh. Đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản thì công khai, lợi dụng hoàn cảnh chủ tài sản không có điều kiện ngăn cản để chiếm đoạt tài sản. Đối với tội "Trộm cắp tài sản" thì người phạm tội lén lút chiếm đoạt tài sản.

- Cần chú ý là trong các trường hợp trên, nếu người phạm tội đang trong giai đoạn chiếm đoạt tài sản như vừa cầm được tài sản trong tay người bị hại thì người bị hại giành giật lại, hoặc đang trong lúc giằng co tài sản mà người phạm tội đánh, đấm, đâm, chém… người bị hại để chiếm đoạt bằng được tài sản đó thì lúc này người phạm tội đã dùng vũ lực ngay tức khắc nhằm chiếm đoạt tài sản và do đó chuyển hoá thành tội "Cướp tài sản". Tuy nhiên trong trường hợp hành vi phạm tội trên đã hoàn thành, nhưng do bị phát hiện đuổi bắt mà đánh, chém… người bị hại hoặc người đuổi bắt thì đây chỉ là hành hung để tẩu thoát. Ví dụ: một người có hành vi trộm cắp tiền của người khác, khi họ vừa móc túi người bị hại, người bị hại giữ được tay họ đang cầm ví tiền, hai người đang giằng co, người phạm tội đấm, đánh người kia, làm họ bỏ tay ra, người phạm tội đút ví tiền vào túi của mình rồi chạy trốn thì trường hợp này tội trộm cắp tài sản đã chuyển hoá thành tội “Cướp tài sản”. Nếu người phạm tội đã lấy được tài sản và bỏ đi một đoạn, người bị hại phát hiện mất trộm, nên đuổi theo bắt người phạm tội và bị đánh trả thì vẫn là tội trộm cắp tài sản với tình tiết định khung hình phạt: “hành hung để tẩu thoát” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 173 BLHS.

2. Quy định mức phạt về tội cướp điện thoại ?

Chào luật sư! Ngày 20/11/2015 em trai tôi bị công an tỉnh B.N triệu tập lấy lời khai tham gia vụ cướp điện thoại.sau khi lấy lời khai xong em tôi bị ra lệnh bắt tạm giam,và đọc lệnh khám nhà thu giữ 01 điện thoại iPhone 4s của vợ đang dùng, 01điện thoại samsung hỏng, 01 điện thoại 110i Nokia, tổng là 03 điện thoại.
Em tôi đang bị tạm giam tại B. N. như vậy em tôi sẽ bị truy tố thuộc khoản mấy, điều bao nhiêu, khung hình phạt là bao nhiêu năm tù? Tôi rất mong nhận được câu trả lời sớm nhất từ phía luật sư ?
Tôi xin cảm ơn!
 

Trả lời:

Để biết khung hình phạt của em bạn, bạn có thể xem xét những quy định điều 168 về tội cướp tài sản và điều 171 tội Cướp giật tài sản Bộ Luật Hình sự năm 2015

Như vậy, theo quy định trên thì em bạn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự về tội cướp giật tài sản. Tùy vào mức độ của tội có thể bị truy cứu theo từng khoản ở điều này. Theo như bạn trình bày thì em bạn tham gia vào vụ cướp điện thoại tức là đã phạm tội có tổ chức thì ít nhất sẽ bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm.

Khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự (Điều 51 Bộ luật hình sự).

3. Cướp giật tài sản bị xử lý như thế nào ?

Luật sư cho tôi hỏi,tôi có ng nhà có hành vi cướp giật tài sản là chiếc điện thoại samsung không mấy giá trị,sau khi cướp thì bị giữ xe còn ng thì chạy thoát nhưng sau đó ng nhà tôi đã ra đầu thú luôn và thành khẩn khai báo.luật cho tôi hỏi như vậy ng nhà tôi liệu sẽ bị xử ntn ?
Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Về tội cướp giật tài sản, Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định như sau:

"Điều 171. Tội cướp giật tài sản

1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

g) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

c) Làm chết người;

d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng."

Theo đó, người nào có hành vi cướp giật tài sản của người khác có thể bị xử phạt tù từ một đến năm năm. Tuy nhiên, người này đã thành khẩn khai báo cũng như ra đầu thú nên Tòa án có thể xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ khi định tội.

 

4. Tư vấn về xác định Tội cướp tài sản hay tội cưỡng đoạt tài sản ?

Thưa luật sư! Xin hỏi: Năm 2015 tôi là cán bộ hợp đồng Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc, tôi được lãnh đạo trung tâm giao nhiệm vụ chăm sóc trẻ em lang thang người già cô đơn. Thời điểm này đối tượng A được tôi trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, lúc này A có lấy trộm của tôi 400 nghìn bị tôi phát hiện A đem trả tôi 200 nghìn và xin tôi 200 nghìn.
Vào năm 2019 do nhu cầu việc làm tôi vào thành phố, mục đích tìm việc làm thì gặp lại A tôi ở nhờ phòng trọ A 4 ngày rồi về nhà. Khi về tôi có để nhờ 1 chiếc ba lô màu đen đựng quần áo và giấy tờ cá nhân, vài hôm sau tôi có điện cho A xin lại ba lô nhưng không được. Vào ngày 27 tháng 12 năm 2015, tôi vào thành phố tìm A để xin lại ba lô, cùng thời điểm bạn tôi là B về thành phố chơi tôi cùng B đi tìm A xin lại ba lô. Khi tới phòng trọ A có 1 mình tôi nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của A, tôi lấy tờ giấy trong ba lô ra và nói của 1 người quen nợ tiền đến ngày 23 mà nay là 27 và yêu cầu A chịu trách nhiệm nhưng A không đồng ý.
Lúc này lấy lí do trước năm 2015 A có lấy tôi 400 nghìn còn 200 nghìn tôi tính lãi xuất đến thời điểm hiện tại năm 2019 là 3 triệu đồng và yêu cầu A viết giấy vay tiền, A không đồng ý thì bạn tôi B tát A và nói: "mày có tin tao xin tí máu của mày không", A đồng ý viết giấy vay tiền là 3 triệu đồng và tôi có cầm của A 1 thẻ bảo hiểm ngân hàng 1 thẻ y tế đều mang tên A và nói khi trả tiền tôi sẽ trả lại A số giấy tờ trên nếu A không trả tôi tiền tôi sẽ lấy xe máy của A đang sử dụng,A hẹn tới ngày 10 tháng 1 năm 2020 sẽ trả số tiền trên. Tôi và B cùng ký vào tờ giấy vay nợ trên, đến ngày 1 tháng 1 năm 2020 A gọi tôi đến và nói đã lo được tiền và trả tôi 2 triệu còn 1 triệu A xin nợ trả sau. Khi A đưa tiền tôi trả lại toàn bộ giấy tờ của A trước đó thì bị công an bắt quả tang.
Xin luật sư tư vấn giúp, hành vi của tôi là cướp tài sản hay là cưỡng đoạt tài sản? Tôi xin chân thành cảm ơn!
 
...........................
LS TRẦN MINH HÙNG, LS GIỎI CHUYÊN VỀ HÌNH SỰ TRÊN HTV, VTV, THVL, ANTV, TRUYỀN HÌNH QUỐC HỘI, QUỐC PHÒNG, VTC, SCTV...
 
 

Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội.

                   Luật sư Trần Minh Hùng là một trong những luật sư sáng lập văn phòng luật, giàu kinh nghiệm về kiến thức và thực tiễn đã dành nhiều thắng lợi vụ kiện và quan trọng luật sư Hùng luôn coi trọng chữ Tâm của nghề luật sư và trách nhiệm đối với xã hội nên đã được nhiều hãng báo chí, truyền thông, Đài truyền hình, Đài tiếng nói Việt nam phỏng vấn nhiều lĩnh vực quan trọng liên quan đến đời sống. Luật sư Trần Minh Hùng được nhiều hãng truyền thông, báo chí trong nước  tin tưởng với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn trên VOV Giao Thông – Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài truyền hình TP.HCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Truyền hình SCTV, THĐN, Truyền hình Quốc Hội VN, Truyền hình Công an ANTV, Đài truyền hình Vĩnh Long, Đài phát thanh kiên giang... và các hãng báo chí trên cả nước, được các tổ chức, trường Đại học Luật TP.HCM mời làm giám khảo các cuộc thi Phiên tòa giả định với Đại học cảnh sát, mời làm chuyên gia ý kiến về các sự kiện……là đối tác tư vấn luật của các hãng truyền thông này và luôn mang lại niềm tin cho khách hàng và ghi nhận sự đóng góp của chúng tôi cho xã hội...là luật sư bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ Ngân hàng Navibank, Huyền Như, Viettinbank, các vụ Giết Người do mâu thuẫn hát karaoke tại Bình Chánh, Vụ cướp 35 tỷ Long Thành- Dầu Dây, Bào chữa bị cáo Huân không đeo khẩu trang mùa Covit, Vụ Nữ sinh Tân Bình bị cắt tai, bảo vệ cho MC Trấn Thành, Bào chữa, bảo vệ vụ "Bác sĩ khoa rút ống thở", Bảo vệ cho người cho thuê nhà vụ Công ty Thế giới Di Động không trả tiền thuê nhà mùa dịch covid, Tư vấn cho nghệ sĩ Thương Tín, bảo vệ vụ đổ xăng đốt 10 người tại TPHCM, Bào chữa chủ tịch huyện Đông Hòa, Phú Yên, các vụ Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, cưỡng đoạt, cướp, gây thương tích, tham ô, mua bán ma túy, cố ý làm trái.… và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi..…là hãng luật tư vấn luật cho nhiều công ty Việt Nam và nước ngoài trên cả nước luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.

Trân trọng cảm ơn.

ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)

Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)
5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)
64 Võ Thị Sáu, Tân Định, quận 1, TPHCM
Điện thoại: 028-38779958; Fax: 08-38779958
Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006
 
 


Luật sư bào chữa tư vấn tội giết người

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Chuyên Hình Sự

Về hành vi giết người đang thi hành công vụ trong tội “Giết người”

Án lệ số 18/2018/AL về hành vi giết người đang thi hành công vụ trong tội “Giết người”

Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Nguồn án lệ:

Bản án phúc thẩm số 331/2018/HS-PT ngày 28-5-2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về vụ án “Giết người” đối với bị cáo: Phan Thành H, tên gọi khác: Đ; sinh năm 1995; nơi đăng ký HKTT: Xã C, huyện D, tỉnh Bình Định; chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã C, huyện D, tỉnh Bình Định.

– Bị hại: Anh Nguyễn Anh Đ.

Vị trí nội dung án lệ:

Đoạn 1, 3 phần “Nhận định của Tòa án”.

Khái quát nội dung của án lệ:

– Tình huống án lệ:

Bị cáo bị cảnh sát giao thông yêu cầu dừng xe để xử lý vi phạm nhưng không chấp hành mà điều khiển xe đâm thẳng vào cảnh sát giao thông. Khi cảnh sát giao thông bám vào cọng gương chiếu hậu của xe, bị cáo tiếp tục điều khiển xe chạy với tốc độ cao, bất ngờ đánh lái sát giải phân cách nhằm hất cảnh sát giao thông xuống đường.

Cảnh sát giao thông rơi khỏi xe, va vào giải phân cách cứng giữa đường, bị đa chấn thương.

– Giải pháp pháp lý:

Trường hợp này, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” với tình tiết định khung là “Giết người đang thi hành công vụ”.

Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:

Điểm d khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 (tương ứng với khoản d khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015).

Từ khoá của án lệ:

“Tội Giết người”, “Cảnh sát giao thông” “Giết người đang thi hành công vụ”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản cáo trạng và bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Về hành vi giết người:

Thực hiện kế hoạch của Phòng cảnh sát giao thông đường bộ – đường sắt Công an tỉnh Hà Tĩnh (PC67), ngày 30-6-2017 Tổ tuần tra kiểm soát gồm các đồng chí: Võ Hoàng N, Nguyễn Anh Đ, Lê Hồ Việt A và Dương Hoài N (do đồng chí Võ Hoàng N làm tổ trưởng) thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm về an toàn giao thông từ Km468 đến Km517 Quốc lộ 1A. Đồng chí Dương Hoài N được giao nhiệm vụ sử dụng máy kiểm tra tốc độ phương tiện giao thông số hiệu UX027957 đo tốc độ phương tiện tại Km11+450 đường tránh thành phố Hà Tĩnh, thuộc xã H, huyện I, tỉnh Hà Tĩnh. Các đồng chí Võ Hoàng N, Nguyễn Anh Đ và Lê Hồ Việt A có nhiệm vụ dừng, kiểm tra, kiểm soát và xử lý đối với các phương tiện vi phạm tại Km488 + 650 Quốc lộ 1A, thuộc địa phận xã K, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh.

Ngày 30-6-2017, Từ Công T và Phan Thành H điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-016.47 kéo theo Sơmirơmoóc BKS: 77R-001.37 lưu thông từ Nam ra Bắc. Khi đến địa phận tỉnh Quảng Bình thì xe do Phan Thành H điều khiển, còn Từ Công T nằm ngủ trong buồng lái. Lúc 15 giờ 28 phút cùng ngày, khi Phan Thành H điều khiển xe đến Km11+450 đường tránh thành phố Hà Tĩnh thì đồng chí Dương Hoài N dùng máy kiểm tra tốc độ phương tiện và phát hiện xe ô tô đầu kéo do H điều khiển vi phạm tốc độ 66/60km/h nên đã thông báo và gửi hình ảnh vi phạm bằng tin nhắn qua điện thoại di động cho Tổ tuần tra làm nhiệm vụ tại Km488 + 700 Quốc lộ 1A biết để xử lý.

Đến 16 giờ 05 phút cùng ngày, khi xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-016.47 do Phan Thành H điều khiển đi đến Km488+650 Quốc lộ 1A thuộc địa phận xã K, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh thì bị Tổ tuần tra Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hà Tĩnh ra tín hiệu dừng phương tiện. Sau khi Phan Thành H cho xe dừng lại, đồng chí Nguyễn Anh Đ đã thông báo lỗi, cho Phan Thành H xem hình ảnh vi phạm và yêu cầu xuất trình giấy tờ. Tuy nhiên Phan Thành H cho rằng xe mình không vi phạm tốc độ, nên không xuất trình giấy tờ rồi tranh cãi với đồng chí Đ và các đồng chí trong Tổ tuần tra đang làm nhiệm vụ. Đồng thời, Phan Thành H lấy máy điện thoại di động có hiển thị hình ảnh tốc độ của xe mình để đối chiếu. Tổ tuần tra giải thích nhưng Phan Thành H vẫn không chấp nhận mà tiếp tục tranh cãi, sau đó lên xe ô tô đóng cửa lại (xe vẫn đang nổ máy). Lúc này, đồng chí Lê Hồ Việt A đang đứng phía trước bên phải đầu xe, còn đồng chí Nguyễn Anh Đ đang đứng phía trước bên trái cách đầu xe ô tô BKS: 77C-016.47 khoảng 01 mét, ra hiệu cho Phan Thành H không được điều khiển xe di chuyển. Tuy vậy, Phan Thành H không chấp hành hiệu lệnh mà bất ngờ điều khiển xe lao thẳng vào đồng chí Lê Hồ Việt A và đồng chí Nguyễn Anh Đ đang đứng phía trước đầu xe để bỏ chạy. Thấy vậy, đồng chí Lê Hồ Việt A nhảy ra lề đường phía bên phải tránh được, còn đồng chí Nguyễn Anh Đ không kịp tránh nên buộc phải bám vào cọng gương chiếu hậu phía trước bên trái trên nắp capo của xe. Mặc dù thấy đồng chí Nguyễn Anh Đ đang bám vào cọng gương chiếu hậu nhưng Phan Thành H vẫn tiếp tục điều khiển xe tăng tốc. Khi đến Km488 + 250 Quốc lộ 1A (cách vị trí xuất phát khoảng 400 mét), lúc này xe của Phan Thành H điều khiển đang chạy ở làn đường bên phải, mặc dù phía trước không có chướng ngại vật hoặc xe cùng chiều nhưng H bất ngờ đánh lái mạnh về phía bên trái, chuyển hướng đầu xe vào sát dải phân cách cứng giữa đường, mục đích để hất đồng chí Nguyễn Anh Đ xuống nhằm bỏ chạy. Do lúc này đồng chí Nguyễn Anh Đ chỉ bám hai tay vào cọng gương chiếu hậu của xe, hai chân không có điểm tựa nên khi xe đánh lái đột ngột đã bị văng khỏi xe va vào dải phân cách cứng, rồi rơi xuống mặt đường.

Sau khi đánh lái đột ngột hất đồng chí Nguyễn Anh Đ rơi xuống đường, Phan Thành H vẫn không dừng lại mà tiếp tục điều khiển xe bỏ chạy, không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của Tổ tuần tra. Đến Km488 Quốc lộ 1A, khi Lực lượng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hà Tĩnh dùng xe chuyên dụng chặn xe lại thì Phan Thành H mới chịu dừng xe nhưng vẫn không chấp hành mà tiếp tục xuống xe tranh cãi với người thi hành công vụ rồi lên xe đóng cửa ngồi trên xe không hợp tác, sau đó điều khiển xe chắn ngang đường gây ách tắc giao thông. Công an huyện L đã phối hợp với Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hà Tĩnh buộc Phan Thành H điều khiển xe vào lề đường và đưa về Trụ sở Công an huyện L giải quyết.

Hậu quả: Đồng chí Nguyễn Anh Đ bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa thị xã Hồng Lĩnh, sau đó chuyển đến điều trị tại Bệnh viện hữu nghị Việt Đức, đến ngày 10-7-2017 được chuyển về điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh cho đến ngày 18-7-2017 thì ra viện.

Quá trình Phan Thành H thực hiện hành vi trên có anh Trần Trung Đ, trú tại số 102 đường M, quận N, thành phố Hà Nội là hành khách đi trên xe taxi BKS: 37A-304.84 của hãng taxi Mai Linh dùng máy di động quay lại diễn biến sự việc.

– Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 87 ngày 18-9-2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Hà Tĩnh đối với thương tích của anh Nguyễn Anh Đ xác định:

+ Chấn thương sọ não: Đụng dập nhu mô não thùy trán trái, vỡ xương đỉnh phải;

+ Vùng đỉnh đầu sẹo vết thương kích thước 2,5cm x 0,2cm; vùng thùy thái dương phải sẹo vết thương 1,5cm x 0,2cm;

+ X Quang: Hình ảnh gãy 1/3 trên xương mác trái đã có can xương.

Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 40%. (BL: 139, 140).

Quá trình điều tra Phan Thành H trình bày xe ô tô H điều khiển không vi phạm tốc độ, theo thiết bị giám sát hành trình VTR01 lắp trên xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-016.47 phản ánh trên đoạn đường tránh thành phố Hà Tĩnh xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-016.47 chạy tốc độ dưới 60km/h. Tuy nhiên, thiết bị giám sát hành trình VTR01 lắp đặt trên xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-016.47 đạt quy chuẩn QCVN31:2001/GTVT ban hành theo Thông tư số 08/2011/TT-BGTVT ngày 08-3-2011 của Bộ Giao thông vận tải có sai số 5km/h và cập nhật tốc độ của xe với thời gian 10 giây/01 lần. Trong khi đó, máy kiểm tra tốc độ phương tiện giao thông với số hiệu UX027957 được kiểm định theo Giấy chứng nhận kiểm định số V08.KD.525.16 ngày 29-9-2016 của Viện đo lường Việt Nam, có đặc trưng kỹ thuật đo lường: Phạm vi đo 8 – 320 km/h, cấp chính xác 2km/h và đo trực tiếp tốc độ của phương tiện đang lưu thông.

Trong vụ việc này, Phan Thành H phải có trách nhiệm chấp hành hiệu lệnh, xuất trình giấy tờ theo yêu cầu của người thi hành công vụ, nếu không đồng ý với kết quả xử lý thì có thể khiếu nại. Tuy nhiên, do lo sợ bị phát hiện việc sử dụng giấy phép lái xe giả nên Phan Thành H không chấp hành và gây án.

2. Về hành vi làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức:

Khoảng tháng 10-2016, Phan Thành H (có giấy phép lái xe hạng C) được Từ Công T nhận làm phụ xe ô tô đầu kéo đi cùng T vận chuyển hàng hóa. Quá trình làm phụ xe, Từ Công T thấy H có thể điều khiển được xe ô tô đầu kéo, nhưng Phan Thành H chưa đủ tuổi để được cấp phép lái xe hạng FC. Khoảng tháng 02-2017, Từ Công T lấy ảnh của Phan Thành H rồi liên hệ với một người không quen ở thành phố Hải Phòng làm 01 giấy phép lái xe hạng FC giả, số: 520144004729 mang tên Lưu Văn C có gắn ảnh của Phan Thành H với giá 2.500.000 đồng rồi giao cho H sử dụng để đối phó, lừa dối khi bị các cơ quan chức năng kiểm tra.

Ngày 30-6-2017, khi làm việc với Cơ quan CSĐT Công an huyện L, Phan Thành H đã xuất trình giấy phép lái xe giả hạng FC mang tên Lưu Văn C (sinh năm 1991; trú tại thị trấn O, huyện D, tỉnh Bình Định). Đồng thời, cả Phan Thành H và Từ Công T đều khai tên của H là Lưu Văn C nhằm lừa dối cơ quan điều tra. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã ra các quyết định tố tụng đối với Phan Thành H nhưng mang tên giả Lưu Văn C.

Trong quá trình điều tra còn xác định: Vào hồi 16 giờ 50 phút ngày 22-4-2017, tại Km1060 + 400 QL1A thuộc địa phận tỉnh Quảng Ngãi, Phan Thành H điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-103.69 kéo theo Sơmirơmoóc 77R-014.65 vi phạm lỗi “Chuyển hướng không có tín hiệu rẽ” và đã sử dụng giấy phép lái xe giả số 520144004728, mang tên Lưu Văn C để lừa dối Tổ tuần tra kiểm soát Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Quảng Ngãi.

– Tại bản kết luận giám định số 10 ngày 05-7-2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Hà Tĩnh xác định: Giấy phép lái xe số 520144004729 mang tên Lưu Văn C, sinh ngày 10-6-1991, nơi cư trú: Thị trấn O, huyện D, tỉnh Bình Định cấp ngày 18-11-2015 là Giấy phép lái xe giả (BL: 91).

Vật chứng thu giữ gồm:

– 01 (một) xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu FREIGHTLINER, BKS: 77C-016.47, số loại: CL 120064S, sơn màu đỏ, số máy: 0933U0841843, số khung: 6CV36LX06844 cùng các giấy tờ liên quan đến xe;

– 01 (một) giấy phép lái xe (thẻ nhựa) số: 520144004729, hạng FC giả mang tên Lưu Văn C;

– 01 (một) giấy phép lái xe (thẻ nhựa) số: 5201600087, hạng C mang tên Phan Thành H do Sở GTVT tỉnh Bình Định cấp;

– 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số: 215341305, mang tên Phan Thành H do Công an tỉnh Bình Định cấp;

– 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu ARBUTUS màu vàng, màn hình cảm ứng, số IMEI: 355052654004631, 355052654004649, máy đã qua sử dụng;

– 01 (một) USB nhãn hiệu Kingston, dung lượng 8GB, trên bề mặt có chữ DT101 G2 có lưu trữ tập tin Video: IMG-1245.MOV thời lượng 00 phút 37 giây.

– 01 (một) USB nhãn hiệu Apacer dung lượng 8GB lưu trữ 02 tập tin Video: IMG-0507.MOV thời lượng 02 phút 58 giây và Video: IMG-0509.MOV thời lượng 03 phút 04 giây.

– 01 (một) USB nhãn hiệu Kingston, dung lượng 8GB, trên bề mặt có chữ DT101.G2 có lưu trữ tập tin Video: IMG-1689.MOV thời lượng 05 phút 10 giây.

Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Tĩnh đã trả lại chiếc xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-016.47 và các giấy tờ liên quan cho chủ sở hữu là Công ty TNHH vận tải và Thương mại tổng hợp T; 03 (ba) chiếc USB đang được lưu giữ theo hồ sơ vụ án, còn các vật chứng khác được chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh để quản lý.

Với hành vi trên, tại Bản cáo trạng số 35/CTr – KSĐT, ngày 13-10-2017, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố Phan Thành H về tội “Giết người” theo điểm d khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 2 Điều 267 của Bộ luật Hình sự. Truy tố Từ Công T về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 2 Điều 267 của Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2017/HSST ngày 26-12-2017, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:

1. Tuyên bố bị cáo Phan Thành H phạm tội: “Giết người” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, bị cáo Từ Công T phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

– Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 93; khoản 3 Điều 52; điểm b khoản 2 Điều 267; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999:

Xử phạt bị cáo Phan Thành H 08 (tám) năm tù về tội “Giết người” và 02 (hai) năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc Phan Thành H phải chịu hình phạt chung là 10 (mười) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 30-6-2017).

– Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 267, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Từ Công T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

Ngoài ra Tòa án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm, thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 03-01-2018, bị cáo Phan Thành H kháng cáo xin được giảm hình phạt; bị cáo Từ Công T kháng cáo xin giảm hình phạt và đề nghị được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo Phan Thành H đã khai nhận toàn bộ hành vi giết người và hành vi làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức như đã được nêu trên. Bị cáo trình bày, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt quá nặng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Từ Công T đã khai nhận toàn bộ hành vi làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức như đã được nêu trên, bị cáo trình bày, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Có đủ chứng cứ để kết luận bị cáo Phan Thành H đã phạm tội “Giết người” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 93; điểm b khoản 2 Điều 267 Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Từ Công T: Đã phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 267 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Sau khi đánh giá tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của các bị cáo; xem xét nhân thân; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Thành H, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Từ Công T, giữ nguyên hình phạt và cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Phan Thành H phát biểu ý kiến: Không tham gia tranh luận về tội danh và khung hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999 và giảm hình phạt cho bị cáo Phan Thành H.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Luật sư và các bị cáo vẫn giữ nguyên ý kiến của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Phan Thành H và Từ Công T phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 16 giờ 05 phút ngày 30-6-2017, bị cáo Phan Thành H điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-016.47 kéo theo sơmirơmoóc BKS: 77R-001.37, khi đi đến km 488 + 650 quốc lộ 1A thuộc địa phận xã K, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh thì bị tổ tuần tra Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hà Tĩnh dừng xe vì đã vi phạm về tốc độ (66/60km/giờ). Bị cáo Phan Thành H đã không chấp hành vì cho rằng mình không vi phạm tốc độ, nên đã tranh cãi và điều khiển xe đâm thẳng vào ông Nguyễn Anh Đ và ông Lê Hồ Việt A là cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ, khi những người này đang đứng trước đầu xe ô tô. Ông Lê Hồ Việt A nhảy sang lề đường tránh được, còn ông Nguyễn Anh Đ buộc phải bám vào cọng gương chiếu hậu phía trước bên trái đầu xe. Phan Thành H tiếp tục điều khiển xe chạy với tốc độ cao, rồi bất ngờ đánh lái mạnh về phía bên trái vào sát giải phân cách giữa đường nhằm hất ông Nguyễn Anh Đ xuống đường để bỏ trốn. Hậu quả là ông Nguyễn Anh Đ bị rơi khỏi xe va vào giải phân cách cứng giữa đường, rồi rơi xuống đường. Phan Thành H bỏ mặc cho hậu quả xảy ra rồi tiếp tục điều khiển xe chạy trốn. Ông Nguyễn Anh Đ đã bị chấn thương sọ não, gãy chân, tổn hại sức khỏe 40%.

[2] Phan Thành H và Từ Công T còn có hành vi phạm tội như sau: Bị cáo Từ Công T biết rõ bị cáo Phan Thành H chưa có giấy phép lái xe hạng FC và chưa đủ tuổi để được cấp giấy phép lái xe hạng FC, nhưng Từ Công T đã thuê một người ở Hải Phòng (T không biết rõ họ tên và địa chỉ) làm giấy phép lái xe hạng FC giả, số 520144004729 có ảnh của Phan Thành H, nhưng mang tên Lưu Văn C đưa cho Phan Thành H sử dụng nhằm lừa dối cơ quan chức năng khi điều khiển xe trên đường. Khi có giấy phép lái xe giả do Từ Công T cung cấp, Phan Thành H đã hai lần sử dụng giấy phép lái xe giả để lừa dối cảnh sát giao thông tỉnh Quảng Ngãi và Công an huyện L, tỉnh Hà Tĩnh. Hành vi sử dụng giấy phép lái xe giả lừa dối cơ quan chức năng nêu trên của Phan Thành H, thì Từ Công T đều biết.

[3] Do có hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phan Thành H về tội “Giết người” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 93 và điểm b khoản 2 Điều 267 Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Bị cáo Từ Công T bị xét xử về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 267 Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[5] Xét kháng cáo của các bị cáo Phan Thành H và Từ Công T, Hội đồng xét xử, xét thấy: Hành vi giết người do bị cáo Phan Thành H thực hiện là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm tính mạng của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn giao thông công cộng.

[6] Hành vi làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức do các bị cáo Từ Công T và Phan Thành H thực hiện đã trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý hành chính, do đó, cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[7] Bị cáo Phan Thành H là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường cho người bị hại để khắc phục hậu quả, người bị hại có đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, thuộc hộ nghèo của địa phương; hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện thuộc trường hợp “phạm tội chưa đạt”; ngoài ra, bị cáo còn có ông ngoại có công với cách mạng được hưởng chế độ như thương binh. Như vậy, bị cáo Phan Thành H được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 18 Bộ luật Hình sự năm 1999. Do đó có căn cứ để giảm một phần hình phạt cho bị cáo về tội “Giết người”, giữ nguyên hình phạt về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

[8] Đối với bị cáo Từ Công T: Là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Quá trình khai báo thành khẩn, tỏ thái độ ăn ăn hối cải; bị cáo đã cùng gia đình bị cáo Phan Thành H bồi thường cho người bị hại để khắc phục hậu quả; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn là lao động chính trong gia đình; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Do đó, có đủ căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Từ Công T.

[9] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[10] Các bị cáo Phan Thành H và Từ Công T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm b khoản 1; Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phan Thành H, sửa bản án sơ thẩm.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 93; điểm b khoản 2 Điều 267; Điều 18; khoản 3 Điều 52 (tội Giết người); điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 1999: Xử phạt bị cáo Phan Thành H 07 (bảy) năm tù về tội “Giết người”; 02 (hai) năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30-6-2017.

2. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Từ Công T, sửa bản án sơ thẩm.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 267; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999: Xử phạt bị cáo Từ Công T 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Từ Công T cho Ủy ban nhân dân thị trấn O (huyện D, tỉnh Bình Định) để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

NỘI DUNG ÁN LỆ

“[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Phan Thành H và Từ Công T phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 16 giờ 05 phút ngày 30-6-2017, bị cáo Phan Thành H điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS: 77C-016.47 kéo theo sơmirơmoóc BKS: 77R-001.37, khi đi đến km 488 + 650 quốc lộ 1A thuộc địa phận xã K, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh thì bị tổ tuần tra Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hà Tĩnh dừng xe vì đã vi phạm về tốc độ (66/60km/giờ). Bị cáo Phan Thành H đã không chấp hành vì cho rằng mình không vi phạm tốc độ, nên đã tranh cãi và điều khiển xe đâm thẳng vào ông Nguyễn Anh Đ và ông Lê Hồ Việt A là cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ, khi những người này đang đứng trước đầu xe ô tô. Ông Lê Hồ Việt A nhảy sang lề đường tránh được, còn ông Nguyễn Anh Đ buộc phải bám vào cọng gương chiếu hậu phía trước bên trái đầu xe. Phan Thành H tiếp tục điều khiển xe chạy với tốc độ cao, rồi bất ngờ đánh lái mạnh về phía bên trái vào sát giải phân cách giữa đường nhằm hất ông Nguyễn Anh Đ xuống đường để bỏ trốn. Hậu quả là ông Nguyễn Anh Đ bị rơi khỏi xe va vào giải phân cách cứng giữa đường, rồi rơi xuống đường. Phan Thành H bỏ mặc cho hậu quả xảy ra rồi tiếp tục điều khiển xe chạy trốn. Ông Nguyễn Anh Đ đã bị chấn thương sọ não, gãy chân, tổn hại sức khỏe 40%.

[3] Do có hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phan Thành H về tội “Giết người” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 93 và điểm b khoản 2 Điều 267 Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng pháp luật.”

 

 

LS TRẦN MINH HÙNG CHUYÊN GIA TƯ VẤN LUẬT , GIÁM KHẢO...

Giới Thiệu Luật Sư Trần Minh Hùng

link s75  

Với phương châm đặt chữ "Tâm" của nghề lên hàng đầu, chúng tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào sự công bằng và bảo vệ công lý cho xã hội. Là hãng luật uy tín thường xuyên tư vấn luật trên HTV, VTV, THVL, ANTV, VTC, SCTV, TH Cần Thơ, Đồng Nai và trên các tờ báo uy tín... Chúng tôi chuyên tư vấn, bào chữa cho khách hàng, thân chủ trên mọi lĩnh vực đất đai, thừa kế, hình sự, doanh nghiệp, ly hôn, công nợ, lao động, hợp đồng....

 

                                   LS TRẦN MINH HÙNG 


Hotline:0972238006