Luật Sư Chuyên Hình Sự

Bài Bào Chữa Cho Bị Cáo Về Tội Vi Phạm Giao Thông Của Luật Sư Trần Minh Hùng

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Chuyên Hình Sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do   - Hạnh phúc

NỘI DUNG BÀO CHỮA CHO BỊ CÁO HUỲNH LÊ MINH NHỰT

Tôi là LS Trần Minh Hùng - Văn phòng luật sư Gia Đình - Đoàn Luật sư TP.HCM bào chữa cho bị cáo Huỳnh Lê Minh Nhựt như sau:

- Về nhân thân: Minh Nhựt không có tiền án, tiền sự, tuổi đời còn trẻ, hoàn cảnh gia đình lại khó khăn.

- Riêng bản thân Huỳnh Lê Minh Nhựt cũng bị tỷ lệ thương tích do tai nạn gây ra là 26% theo án kết luận giám y số: 374/TgT.16 ngày 14/6/2016. Nhựt đã tốn kém chi phí chữa trị và rất ám ảnh về vụ tai nạn của bản thân và bạn gái là chị Nhung.

- Minh Nhựt đang cấp dưỡng cho người bị tai nạn là Hà Thị Ngọc Nhung. Chị Nhung bị tai nạn tỷ lệ thương tích 74%, mặc dù có bãi nại không yêu cầu bồi thường dân sự (đơn ngày 05/8/2016) nhưng do gia đình chị Nhưng thuộc diện chính sách khó khăn, số tiền để điều trị cho chị Nhung quá lớn không đủ tiền điều trị phải vay mượn người khác. Trước tình cảnh chị Nhung điều trị không thể tham gia lao động và sự khó khăn của phía gia đình nạn nhân, Nhựt vẫn tự nguyện thường xuyên lui tới chăm sóc chị Nhung và đi làm kiếm tiền phụ gia đình Nhung trả nợ nần, thuốc men. Điều đó thể hiện sự ăn năn hối lỗi, sám hối của Huỳnh Lê Minh Nhựt, tích cực khắc phục thiệt hại do mình đã gây ra. Hiện nay Nhung vẫn đang điều trị và Nhựt mặc dù chưa thôi hẳn bệnh vẫn đi làm phụ tiền cho Nhung thể hiện sự khắc phục hậu quả.

- Phía gia đình nạn nhân ngày 31/03/2017 cũng đã làm đơn bãi nại đến Ban lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 để xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Nhựt để cho Nhựt có thể đi làm phụ gia đình nạn nhân trả nợ nần trong quá trình điều trị và chăm sóc sức khỏe cho chị Nhung. Gia đình nạn nhân thuộc diện gia đình chính sách, chỉ có cha nạn nhân là lao động chính, rất cần Nhựt đi làm kiếm thu nhập bù đắp tổn thất đã gây ra.

- Xét về yếu tố lỗi, bản thân Nhung và Nhật đều chưa có Giấy phép lái xe trên 50cm3, xe của ba Nhung, Nhung để Nhựt lái nên lỗi xảy ra tai nạn gây thương tích cho Nhung không hoàn toàn thuộc Nhựt, Nhung có 1 phần lỗi lớn và cha Nhung là ông...cũng có phần lỗi khi giao xe cho Nhung và Nhung giao xe cho Nhựt. Xét theo truyền thống của người Việt Nam, khi đi đâu đó chung với nhau, việc đàn ông điều khiển phương tiện tham gia giao thông chở phụ nữ là chuyện đương nhiên, Nhựt và Nhung có mối quan hệ tình cảm yêu nhau đã lâu. Tại nạn xảy ra là sự việc đau lòng mà cả Nhung và Nhựt đều không mong muốn và chưa hề nghĩ đến trước đó, Nhựt không cố ý và không nhận thức đầy đủ hậu quả về hành vi của mình. Nhựt chưa có bằng lái xe nhưng việc Nhựt vượt bên phải xe chuyên dùng (xe ép rác là có căn cứ theo quy định tại điều 14 luật giao thông đường bộ (không thể vượt bên trái xe chuyên dùng). Xe ép rác là một dạng xe chuyên dùng theo quy định tại Khoản 3 Điều 3Thông tư 91/2015/TT-BGTVT.

Người làm chứng tên Nguyễn Văn Trọng khai xe ô tô va chạm phía sau xe Nhựt.

 Nhựt khai tài xế va chạm còn điều khiển xe cho cán lên 2 lần đối với Nhung. Nhựt khai tài xế có mùi rượu,Người làm chứng Hoàng Oanh khai người dân yêu cầu tài xế Lê Văn Thiên dừng lại, chứ không phải Thiên tự dừng lại như Thiên tự khai....nhưng các chi tiết này vẫn chưa được cơ quan điều tra làm rõ. Đề nghị HĐXX xem xét các vấn đề này cần làm rõ trách nhiệm của tài xế. Việc Hà Văn Lâm, Nhựt làm bãi nại không phải để miễn trách nhiệm của tài xế theo quy định tại điều 105 Bộ luật hình sự.

Người làm chứng Hoàng Oanh khai người dân yêu cầu tài xế Lê Văn Thiên dừng lại, chứ không phải Thiên tự dừng lại như Thiên tự khai.

Với những vấn đề trên, yêu cầu áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Huỳnh Lê Minh Nhựt, áp dụng điểm a, b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, Minh Nhựt lần đầu phạm tội, thành thật ăn năn hối cải, tích cực khắc phục thiệt hai, làm giảm bớt thiệt hại, gia đình nạn nhân có đơn bãi nại, nhân thân thân tốt, có nơi thường trú, chỗ ở rõ ràng, có công ăn việc làm, gia đình khó khăn. Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự, điều 60 Bộ luật hình sự kính mong HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo, không nên áp dụng hình phạt tù với bị cáo bị cáo Nhựt có thể kiếm thu nhập khắc phục thiệt hại do vụ tai nạn gây ra.

Về yêu cầu bồi thường về dân sự do Nhựt bị tổn hại.

Khoản 3 Điều 601 Bộ Luật Dân sự 2015:

Điều 601. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật.

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Căn cứ Điều 590 BLDS 2015 Quy định về thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

 

Đồng thời căn cứ Nghị quyết số 03/2006 của HĐTP tòa án nhân dân tối cao quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Tòa án nhân dân tối cao.

Yêu cầu Công ty HTX Công Nông Bồi thường tổn thất tinh thần: 60.500.000 đồng về tổn thất tinh thần cho bị cáo Nhựt.

Trên đây là ý kiến đưa là của tôi, kính mong HĐXX xem xét chấp nhận.

Trân trọng cảm ơn.

                                                                   TP.HCM, ngày   tháng   năm 2017

Dịch Vụ Luật Sư Chuyên Bào Chữa Hình Sự

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Chuyên Hình Sự

HÃNG LUẬT CHUYÊN BÀO CHỮA HÌNH SỰ.
 
Quyền bào chữa là quyền dùng lý lẽ, đưa ra các chứng cứ, tài liệu để xác định rằng bị can, bị cáo không phạm tội hoặc chứng minh giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ. 

Theo quy định của pháp luật thì bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình. Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo được ghi nhận tại Điều 132 Hiến Pháp 1992. Tại Điều 11 Bộ Luật Tố tụng hình sự 2003 cũng quy định rõ : “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa”. 

Trong thực tiễn, vì những lý do khác nhau nên không phải bất kỳ người nào rơi vào vòng lao lý cũng có khả năng tự bào chữa một cách có hiệu quả. Do vậy, pháp luật tạo điều kiện cho họ thực hiện quyền bào chữa của mình bằng cách nhờ người khác, trong đó có luật sư. 

Luật sư là người có khả năng giúp đỡ bị can, bị cáo về mặt pháp lý có hiệu quả nhất vì luật sư là người có trình độ, kiến thức pháp luật, tinh thông nghiệp vụ và là người có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động bào chữa. Khi tác nghiệp luật sư sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo; giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. 

Đối với con người, cái quý nhất là sự tự do. Các luật sư hình sự VPLS GIA ĐÌNH thấu hiểu và luôn luôn trăn trở trước cái “Được” và “Mất” của thân chủ. Chính vì thế chúng tôi luôn lựa chọn những luật sư đủ “Tài”, đủ “Đức” để tham gia tố tụng trong các vụ án hình sự. Mục đích cơ bản của chúng tôi là làm sáng tỏ những tình tiết minh oan hoặc gỡ tội, hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp đỡ họ về mặt pháp lý một cách tốt nhất để họ được "Sống" và "Tự do"...

Tham gia tố tụng hình sự là một trong những dịch vụ pháp lý đầu tiên của VPLS GIA ĐÌNH, được thực hiện bởi các luật sư hình sự giỏi, nhiều kinh nghiệm, có bản lĩnh, tâm huyết với nghề luật sư và có trách nhiệm cao trước khách hàng.

VPLS GIA ĐÌNH cử luật sư hình sự tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa (luật sư bào chữa) cho bị can, bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự:

- Cử luật sư tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ trong trường hợp bắt người khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã từ khi có quyết định tạm giữ

- Cử luật sư tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa (luật sư bào chữa) cho bị can từ khi có quyết định khởi tố bị can

- Cử luật sư tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa cho bị cáo từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử
VPLS GIA ĐÌNH cử luật sư hình sự tham gia các gia đoạn khởi tố, điều tra, tuy tố, xét xử theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng trong các vụ án chỉ định (các vụ án mà bị can, bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét xử ở khung hình phạt có mức án cao nhất; các vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần…) 

Trường hợp tham gia từ giai đoạn điều tra, truy tố luật sư VPLS GIA ĐÌNH hướng dẫn bị can, bị cáo khai ngay từ khi bị hỏi cung trước các cơ quan điều tra, viện kiểm sát tránh ép cung, mớm cung, dụ cung để xác định sự thật khách quan của vụ án. Khách hàng được tư vấn kịp thời để không bỏ lỡ cơ hội hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Khi thực hiện quyền năng tố tụng của mình luật sư VPLS GIA ĐÌNH giúp cơ quan điều tra thu thập chứng cứ của vụ án một cách khách quan, toàn diện, đặc biệt làm rõ những chứng cứ vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can, hạn chế việc oan sai và vi phạm tố tụng trong quá trình điều tra, tạo điều kiện cho việc giải quyết vụ án được chính xác, nhanh chóng, kịp thời. 

Trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, luật sư hình sự VPLS GIA ĐÌNH có vai trò đặc biệt quan trọng
Luật sư nghiên cứu hồ sơ vụ án: Luật sư nhanh chóng phát hiện những tình tiết mâu thuẫn, những chứng cứ không phù hợp với thực tế khách quan của vụ án cần được làm rõ... 

Luật sư chuẩn bị luận cứ và xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa: Phân tích, đánh giá chứng cứ, chú ý đến những tình tiết có lợi để minh oan hoặc gỡ tội cho bị cáo. Bằng luận cứ bào chữa hợp tình, hợp lý và có sức thuyết phục của mình VPLS GIA ĐÌNH giúp đỡ thân chủ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, đồng thời giúp Hội đồng xét xử ra bản án khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
VPLS GIA ĐÌNH cử luật sư giỏi có khả năng bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong các vụ án hình sự: 

- Cử luật sư tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại trong vụ án hình sự. 

Trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì luật sư VPLS GIA ĐÌNH có thể thay mặt họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa:

- Cử luật sư tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự

- Cử luật sư tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn dân sự trong vụ án hình sự

- Cử luật sư tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự. 

Ngoài ra luật sư hình sự VPLS GIA ĐÌNH còn có thể hướng dẫn thân chủ (khách hàng) soạn thảo đơn kháng cáo, đơn đề nghị xin kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm theo đúng quy định của pháp luật. 

Liên hệ ngay để được sử dụng dịch vụ luật sư hình sự tốt nhất!  

Quan Điểm LS Trần Minh Hùng Về Tội Đánh Bạc

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Chuyên Hình Sự

Tội đánh bạc được quy định tại Điều 248 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 thì giá trị tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc là từ 2.000.000 đồng (2 triệu đồng) sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Còn theo Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2016 thì giá trị tài sản dùng để đánh bạc đã thay đổi từ 2 triệu đồng lên 5.000.000 đồng (5 triệu đồng), cụ thể điều luật quy định như sau:

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Áp dụng Nghị quyết số: 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội tình tiết có lợi cho bị can bị cáo: Điều 1

1.Kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2016, Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 (sau đây gọi là Bộ luật hình sự năm 2015) được áp dụng như sau:

a) Tất cả các điều khoản của Bộ luật hình sựnăm 2015được áp dụng đểkhởi tố,điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 ngày01tháng7năm 2016;

b) Các điều khoản của Bộ luật hình sựnăm 2015xóa bỏ một tội phạm, xóabỏ một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt,xóaán tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 7 năm 2016 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt,xóaán tích;

Áp dụng quy định mới, với hành vi đánh bạc dưới 5 triệu đồng, ngày 29/3, TAND Tối cao ra Công văn 80/TANDTC-PC hướng dẫn xử lý như sau. Người thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật dưới 5 triệu đồng, thuộc một trong các trường hợp: chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc tổ chức đánh bạc; chưa bị kết án về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc; đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc nhưng đã được xóa án tích sẽ bị xử lý theo hai hình thức.

Từ ngày 9/12/2015 đến hết 30/6/2016, nếu vụ án đang trong giai đoạn xét xử thì tòa án phải mở phiên tòa và căn cứ Điều 25 Bộ luật hình sự 1999 miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.

Từ 1/7/2016, nếu hành vi vi phạm mới bị phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử thì áp dụng Bộ luật hình sự 2015 để tuyên bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 của Bộ luật Hình sự, “đánh bạc trái phép” là hành vi đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp.

Khi xác định trách nhiệm hình sự với người đánh bạc thì không tính tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của tất cả các lần đánh bạc, mà phải căn cứ từng lần để xem xét. Cụ thể như sau:

a) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc đều dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (dưới 2.000.000 đồng) và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự (đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm) thì người đánh bạc không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Đánh bạc;

b) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của lần đánh bạc nào bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Đánh bạc đối với lần đánh bạc đó;

c) Trường hợp đánh bạc từ hai lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự;

d) Trường hợp đánh bạc từ 5 lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) và lấy tiền, hiện vật do đánh bạc mà có làm nguồn sống chính thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết định khung “có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật hình sự.

Như vậy, số tiền hoặc giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc là căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự (mức tối thiểu là từ 2.000.000 đồng trở lên). Việc xác định chính xác số tiền này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc định tội. Về nội dung này, Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP quy định: “Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc” bao gồm:

a) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc;

b) Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc;

c) Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc.

Như vậy, ngoài tiền và hiện vật sử dụng để chơi bạc (được trực tiếp tại chiếu bạc), những tài sản trên người gồm cả tiền và hiện vật bị cơ quan chức năng thu giữ mà “có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc” thì cũng sẽ được xác định là tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc. Nếu tổng số tiền thu được trực tiếp tại chiếu bạc cùng với số tiền, hiện vật thu giữ trên người (và chứng minh được là sẽ sử dụng để đánh bạc) từ 2.000.000 đồng trở lên thì bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Đánh bạc theo quy định tại Điều 248 Bộ luật Hình sự; số tiền, hiện vật này sẽ bị tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Căn cứ theo quy định trên thì cơ quan công an được quyền kiểm tra trong người của những người con bạc.

Việc cơ quan công an còng tay người đánh bạc khi họ không chống đối, đánh đập họ là điều pháp luật cấm. Không có bất kỳ quy định nào cho phép công an được đánh người. Hơn nữa, theo quy định pháp luật một người chưa bị coi là có tội khi chưa có bản án có hiệu lực của tòa án nên khi chưa có bất kỳ bản án nào tuyên án họ có tội thì họ vẫn là công dân bình thường và chưa được coi họ là tội phạm.

Trong mọi trường hợp việc đánh đập hay bắt giữ người khác trái pháp luật là điều pháp luật cấm, tình trạng này dẫn tới dễ bị oan sai, ép cung, nhục hình. Đây là hành vi rất khó chấp nhận và cần xử lý nghiêm những cán bộ có hành vi sai trái nêu trên.              

Bài Bào Chữa Của LS Trần Minh Hùng Trong Tội Cố Ý Gây Thương Tích

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Chuyên Hình Sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BÀI BÀO CHỮA CỦA LUẬT SƯ TRẦN MINH HÙNG VÀ HOÀNG VIỆT HÙNG - THUỘC VPLS GIA ĐÌNH CHO THÂN CHỦ NGUYỄN HỮU KHANH.

Chúng tôi không đồng ý với bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP.HCM và Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM cáo buộc ôngjj   Nguyễn Hữu Khanh phạm tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điều 104 bộ luật hình sự.

Qua xem xét hồ sơ, lời khai của người bị hại, người làm chứng, bị cáo. Chúng tôi kính mong Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn Hữu Khanh vô tội, hành vi của bị cáo không cấu thành tội cố ý gây thương tích vì những luận điểm sau:

Kể từ lúc trình bày bản khai tại Công an phường 2, quận Tân Bình cho đến khi trình bày bản khai, hỏi cung tại Cơ quan cảnh sát điều tra công an TP.HCM thì bị cáo Khanh vẫn khai trước sau như một đó là có dùng con dao dụng cụ để hù dọa ông Vĩnh và có xô xát với nhau nhưng không biết vết thương trên lưng có phải do ông gây ra và do con dao ông cầm gây ra không. Vì thực tế ông đã khai là không đâm ông Vĩnh. Chính những người làm chứng như vợ ông Khanh là bà Mai, những người làm chứng là người thân, người nhà ông Vĩnh bao gồm bà Hoa, bà Châu, bà Ngọc đều khai nhận trong các bản khai là không thấy ông Khanh đâm ông Vĩnh, đâm có trúng không. Ngoài ra, camera ghi lại thì không thấy bất kỳ hình ảnh nào bị cáo Khanh cầm dao đâm ông Khanh. Chính ông Vĩnh cũng khai nhận là chỉ khi thấy lành lạnh sau lưng thì sau khi thấy chảy máu mới đoán ông Khanh đâm chứ ông Vĩnh cũng không thấy trực tiếp ông Khanh đâm. Ngoài ra, trong bản khai ông Vĩnh chỉ khai ông Khanh dùi dùi dao về phía ông Vĩnh chứ không trực tiếp đâm ông Vĩnh. Điều này được thể hiện rõ trong Biên bản tiếp nhận tin tố giác ngày 28/7/2016 Tại CA P.2 Quận Tân Bình thì rõ ràng các bên chỉ ghi nhận bị cáo Khanh chỉ đe dọa và đuổi ông Vĩnh, dùng dao rạch phía sau lưng...chứ bị cáo Khanh không đâm.

Qua nghiên cứu hồ sơ thì chúng tôi thấy lời khai của bị hại, người làm chúng mâu thuẫn nhau. Ông Vĩnh lúc thì khai rằng sau khi ông Khanh về thì thấy đau ở lưng nên phát hiện có vết thương, lúc khai thấy lành lạnh ở lưng. Vợ ông Vĩnh thì lúc khai Công an phường thấy chảy máu nên khuyên đi chữa bệnh, lúc khai chính bà Hoa thấy chảy máu nên kêu lên công an phường trình báo. Những lời khai này bất nhất và không trùng khớp nhau nên không thể hiện được đây có phải là vết thương do chính ông Khanh và con dao ông Khanh cầm gây ra hay không.

Một vấn đề quan trọng là hiện nay vật chứng là con dao ông Khanh cầm đã không còn, không thu giữ được nên không thể giám định được vết thương trên lưng ông Vĩnh có phải do ông Khanh và con dao này gây ra, việc cơ quan điều tra chỉ đưa những con dao minh họa trên mạng cho ông Khanh ký nhận là không có căn cứ, không có giá trị để kết luận vết thương là do con dao ông Khanh cầm gây ra. Việc nhận định hay kết luận phải có căn cứ, chứng cứ rõ ràng không thể dựa vào hình minh họa để nhận định “có thể” con dao gây ra, hay do vật nhọn gây ra. Để kết luận, đánh giá chứng cứ, vật chứng và kết luận 1 người có tội hay không có tội chỉ có thể là “có tội” hoặc “không có tội” chứ không thể dùng các từ như “có thể”. Bản kết luận giám định sôs 3590/C54B ngày 28/11/2016 của Phân viện khoa học hình sự tại TPHCM kết luận “con dao như mô tả của ông Khanh tác động 1 lần có thể gây nên dấu vết thủng vải trên áo sơ mi”. Như vậy, bản kết luận giám định cũng chỉ kết luận là “có thể” chứ không khẳng định vết thương trên là do con dao gây ra.

Như vậy, việc ông Khanh cầm con dao hù dọa đuổi ông Vĩnh không quyết liệt, không hung hãn, không côn đồ như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM. Điều này thể hiện việc các con ông Vĩnh, vợ ông Vĩnh mặc dù thấy ông Khanh cầm dao vẫn vào căn ngăn chứng tỏ những người này thấy ông Khanh không thực hiện hành vi nguy hiểm mới can ngăn nếu họ cho rằng ông Khanh côn đồ đã không dám căn ngăn. Hơn nữa chính các nhân chứng, bị hại đều khai chỉ sau khi ông Khanh về thì ông Vĩnh mới phát hiện vết thương trên lưng. Như vậy, việc ông Khanh có đâm ông Vĩnh hay không thì không ai thấy trực tiếp, vật chứng không còn, bị hại chỉ đoán chứ không thấy, camera không rõ không thấy được nên không thể khẳng định bị cáo Khanh gây ra vết thương này. Sau khi  xô xát xong ông Khanh không bỏ chạy mà chỉ đi ra đón taxi về. Diễn biến vụ việc diễn ra bình thường và không thể hiện tính chất nguy hiểm của hành vi.

Hành vi của ông Khanh nếu có chăng chỉ là vô ý gây ra thương tích cho ông Vĩnh mà thôi. Trong khi theo quy định tại điều 108 Bộ luật hình sự thì để thỏa mãn cấu thành tội này thì thương tật gây ra cho nạn nhân phải 31% mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Với hành vi vô ý của mình (nếu có) của ông Khanh mà ông Vĩnh chỉ bị thương tích 02% thì không đủ yếu tố cấu thành tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác theo quy định. Việc chứng minh vô ý của ông Khanh được thể hiện qua không ai thấy ông Khanh cầm dao trực tiếp đâm trúng ông Vĩnh, ông Khanh cũng không biết vết thương này có phải do ông và con dao ông cầm gây ra không, ông Khanh không thừa nhận đâm ông Vĩnh, camera cũng không ghi lại rõ nét hành vi này. Nếu ông Khanh cố ý thì có thể ông Vĩnh đã bị thương tích nặng hơn chứ không chỉ có 2%. Trong camera chúng tôi còn thấy đoạn sau thì ông Vĩnh lùi dựa vào phía sau, do vậy vết thương này có thể do vật khác đã gây ra cho ông Vĩnh. Rõ ràng hành vi của thân chủ tôi không có dấu hiệu của tội phạm.

Kết luận điều tra và Cáo trạng của Viện kiểm sát đều chưa đưa ra được bất kỳ một bằng chứng có căn cứ pháp lý nào để kết luận vết thương trên lưng ông Vĩnh là do con dao và do hành vi thân chủ chúng tôi gây ra. Mà mọi thứ chỉ là phỏng đoán mà thôi.

Để kết luận một hành vi phạm tội phải có căn cứ, chứng cứ pháp lý rõ ràng, nếu không có căn cứ phải tuyên thân chủ chúng tôi vô tội, bởi chỉ có nguyên tắc suy đoán vô tội chứ không có nguyên tắc suy đoán có tội, không thể suy đoán vết thương trên lưng do thân chủ chúng tôi gây ra. Như vậy, chúng tôi cho rằng chưa có căn cứ, chưa có cơ sở để kết tội thân chủ tôi đã gây ra vết thương trên lưng cho ông Vĩnh.

Việc ông Khanh dẫn đến mâu thuẫn, xô xát có một phần lỗi lớn của ông Vĩnh, bà Hoa khi đã đứng tên căn nhà số 26 Phạm Cự Lượng, P.2, Quận Tân Bình và vợ chồng ông Vĩnh, bà Hoa đã nhận đủ 250 cây vàng SJC của ông Khanh để mua căn nhà trên cho ông Khanh và đứng tên cho ông Khanh. Nhưng vợ chồng ông Vĩnh, bà Hoa đã ngang nhiên thế chấp căn nhà này cho ngân hàng mà không hỏi ý kiến ông Khanh, khi ông Khanh đến đòi tiền còn to tiếng và tỏ ra thách thức thân chủ chúng tôi, chiếc xe AIR BLAKE cũng do thân chủ chúng tôi mua cho ông Vĩnh đứng tên. Tại giấy mượn nhà ngày 19/12/2015 chính ông Vĩnh, bà Hoa đã thừa nhận điều này và cho rằng khó khăn nên xin ông Khanh cho khất trả nhà muộn, vì thương anh em ông Khanh đã bỏ qua nhưng ông Vĩnh, bà Hoa đã không biết điều, không biết ơn người khác đã giúp mình. Buộc thân chủ tôi hiện nay phải kiện ông Vĩnh, bà Hoa ra tòa án dân sự quận Tân Bình để đòi lại nhà và số vàng trên. ông Vĩnh bà Hoa hứa sang tên nhà đất cho thân chủ tôi nhưng vẫn không thực hiện nên đã làm cho thân chủ tôi rất bức xúc. Mỗi lần về VN thân chủ tôi đều đến lấy tiền cho thuê căn nhà trên, mỗi năm 210.000.000 đồng nhưng ngày 28/7/2016 thì bà Hoa và ông Vĩnh không trả tiền mà còn thách thức thân chủ chúng tôi. Vừa mất nhà, mất tiền, số tiền dành dụm cả đời làm ăn ngày đêm tích lũy gửi cho em mua nhà đất dùm để sau già về VN sinh sôngs mà bị em thế chấp hết ngân hàng, không trả tiền cho thuê nhà thử hỏi làm sao thân chủ chúng tôi không bức xúc được. Không những thế thân chủ tôi và vợ thân chủ còn bị đuổi ra khỏi nhà, vợ thân chủ tôi thì bị đánh nên lấy xe bỏ chạy.

Tại phiên tòa hôm nay và theo yêu cầu của thân chủ Nguyễn Hữu Khanh tôi yêu cầu Tòa án khởi tố vụ án ngay tại tòa đối với ông Nguyễn Văn Vĩnh và vợ là bà Nguyễn Thị Mai Hoa vì đã có hành vi vu khống tôi.  Cụ thể tại đơn tố cáo ngày 7/8/2016 gửi công an quận Tân Bình ông Vĩnh và Bà Hoa tố cáo thân chủ chúng tôi là “mafia buôn bán ma túy tại. Bọn mafia bên Hà Lan đã từng bắn hắn, nhưng hắn thoát được”. Tại biên bản ghi nhận hòa giải ngày 29/7/2016 Tại công an phường 2, quận Tân Bình ông Vĩnh vu khống thân chủ tôi , cụ thể ông Vĩnh vu khống “trong quá khứ ông đã từng cầm dao đâm chết vợ của ông ta”.

Khi vu khống, tố cáo ông Khanh ông Vĩnh không đưa ra được bất kỳ chứng cứ, căn cứ nào thân chủ tôi là mafia, là dân mua bán ma túy, là người đã đâm chết vợ. Chưa có bất kỳ một quyết định, bản án, văn bản nào của Việt Nam cũng như của Hà Lan thân chủ tôi có những hành vi trên hay phạm tội vào tội những tội trên như ông Vĩnh và bà Hoa tố cáo và vu khống. Như vậy, lời tố cáo và vu khống này ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống, tinh thần của ông Khanh vì ông Khanh còn có gia đình, bạn bè, đồng nghiệp tại Việt nam và Hà Lan. Thân  chủ tôi có nghề nghiệp đàng hoàng chứ không như ông Vĩnh và bà Hoa tố cáo và vu khống.

Điều 122. Tội vu khống.

“1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:A) Có tổ chức;

B) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

C) Đối với nhiều người;

D) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

Đ) Đối với người thi hành công vụ;

E) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng…”

Như vậy, ông Vĩnh và bà Hoa đã vu khống thân chủ tôi giết người và buôn bán ma túy là vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biết nghiêm trọng. Cần xử lý theo quy định pháp luật. Hành vi đã có dấu hiệu của tội phạm kính mong Qúy tòa xem xét yêu cầu của thân chủ chúng tôi là khởi tố vụ án ngay tại tòa án về hành vi trên của ông Vĩnh, bà Hoa.

Hành vi của ông Vĩnh, bà Hoa đã xâm phạm đến khách thểlà quan hệ nhân thân mà nội dung là quyền được tôn trọng và bảo vệ về nhân phẩm, danh dự của con người. Đối tượng tác động là con người.

+ Hành vi bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Đây là hành vi cố tình đưa ra những thông tin không đúng sự thật nhằm bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác hoặc làm ảnh hưởng xấu đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

+ Hành vi loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích của người khác. Đay là trường hợp chử thể không phải là người tạo ra thông tin bịa đặt đó nhưng khi thu được thông tin họ cố ý làm cho người khác biết mặc dù họ biết rõ đó là thông tin bịa đặt.

+ Hành vi bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.
Tội phạm hoàn thành ngay từ khi những hành vi nói trên được thực hiện không phụ thuộc vào việc quyền lợi của nạn nhân đã bị xâm hại hay chưa.

Hành vi trên của ông Vĩnh, bà Hoa là Lỗi cố ý trực tiếp.

Căn cứ điều 13 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự:

“Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội.

Không được khởi tố vụ án ngoài những căn cứ và trình tự do Bộ luật này quy định.”

Ngoài ra, tại khoản 1, điều 104 Bộ luật này quy định:

“Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra.”

Chúng tôi kính mong Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu của thân chủ chúng tôi và yêu cầu của chúng tôi tại phiên tòa hôm nay.

Trên đây là lời bào chữa của chúng tôi.

Kính mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

TP.HCM, ngày   tháng   năm 2017

Luật Sư Tư Vấn Tội Làm Gỉa Con Dấu, Tài Liệu, Giấy Tờ

Viết bởi Ls. Trần Minh Hùng. Posted in Luật Sư Chuyên Hình Sự

Chúng tôi chuyên tư vấn và bào chữa hình sự:

Dấu hiệu pháp lý

 
- Khách thể: tội phạm này xâm phạm trật tự quản lý hành chính Nhà nước, tổ chức và xâm phạm sự hoạt động bình thường, uy tín của cơ quan Nhà nước, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước về con dấu, tài liêu hoặc giấy tờ khác
 
Đối tượng phạm tội là con dấu, tài liệu giả hoặc giấy tờ giả.
 
- Khách quan:
 
Người phạm tội có một trong hai hành vi sau:
 
+ Làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan Nhà nước, tổ chức: là hành vi của người không có thẩm quyền cấp các giấy tờ đó nhưng đã tạo ra các giấy tờ đó bằng những phương pháp nhất định để coi nó như thật. Việc làm giả này có thể là giả toàn bộ hoặc chỉ từng phần (tiêu đề, chữ ký, con dấu, nội dung…). Hành vi phạm tội này hoàn thành kể từ khi người không có thẩm quyền tạo ra được con dấu, tài liệu, các giấy tờ giả của một cơ quan Nhà nước, tổ chức nhất định (kể cả cơ quan Nhà nước hay tổ chức đó không có thật hoặc đã bị giải thể). Điều luật không yêu cầu việc “làm” giả này phải nhằm sử dụng hoặc đã sử dụng vào mục đích gì.
 
+ Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả khác của cơ quan Nhà nước, tổ chức để lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân. Đây là trường hợp người phạm tội không có hành vi “làm” giả các đối tượng trên nhưng đã có hành vi “sử dụng” chúng để lừa dối cơ quan Nhà nước, tổ chức hoặc công dân. “Lừa dối” ở đây có nghĩa là người phạm tội sử dụng các đối tượng đó trong giao dịch với cơ quan Nhà nước, tổ chức hoặc công dân khiến cho các đối tác giao dịch tin đó là đối tượng thật.
 
Ví dụ: Sử dùng bằng tốt nghiệp giả để đi xin việc, được bổ nhiệm, được tăng lương, để đi lao động nước ngoài; làm giả sổ hộ khẩu để nhận việc làm ở thành phố, để được giao đất trồng rừng,…
 
Hành vi sử dụng con dấu, giấy tờ…trong Điều 267 là sử dụng các con dấu, giấy tờ…được tạo ra từ nguồn gốc không đúng thẩm quyền. Đối với hành vi sử dụng, tội phạm hoàn thành khi người phạm tội có hành vi sử dụng các đối tượng trên để lừa dối cơ quan Nhà nước, tổ chức hoặc công dân, không cần xảy ra hậu quả.
 
Điều luật chỉ quy định người sử dụng các giấy tờ, tài liệu vào mục đích lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân. Vì vậy, nếu hành vi “lừa dối” đã đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội phạm này.
 
- Chủ quan: là lỗi cố ý trực tiếp. Đối với hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức thì không cần mục đích nhưng hành vi sử dụng chúng thì cần mục đích là để lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân.
 
- Chủ thể: bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm hình sự theo luật định

II. Hình phạt

 
1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
 
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm:
 
- Có tổ chức;
 
- Phạm tội nhiều lần;
 
- Gây hậu quả nghiêm trọng;
 
- Tái phạm nguy hiểm.
 
3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ bốn năm đến bảy năm.
 
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng

Trân trọng

Giới Thiệu Luật Sư Trần Minh Hùng

link s75  

Với phương châm đặt chữ "Tâm" của nghề lên hàng đầu, chúng tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào sự công bằng và bảo vệ công lý cho xã hội. Là hãng luật uy tín thường xuyên tư vấn luật trên HTV, VTV, THVL, ANTV, VTC, SCTV, TH Cần Thơ, Đồng Nai và trên các tờ báo uy tín... Chúng tôi chuyên tư vấn, bào chữa cho khách hàng, thân chủ trên mọi lĩnh vực đất đai, thừa kế, hình sự, doanh nghiệp, ly hôn, công nợ, lao động, hợp đồng....

 

                                   LS TRẦN MINH HÙNG 


Hotline:0972238006